vanban.org

Bản án 177/2025/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Gia Lai Tuyên án 09/12/2025 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 09/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C, sửa bản án sơ thẩm về ph n án phí dân sự sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo đối với các ph n còn lại của bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L số tiền 3.667.417.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm sáu m ơi bảy triệu bốn trăm m i bảy nghìn đồng); Trong … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Văn T - Nguyễn Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C, sửa bản án sơ thẩm về ph n án phí dân sự sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo đối với các ph n còn lại của bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2025/DS-PT
Ngày: 09 - 12 - 2025
V/v tranh chấp hợp đồng vay
tài sản và hợp đồng đặt cọc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Duy

Các Thẩm phán: Bà Cao Thị Thanh Huyền

Ông Nguyễn Văn Hiệp

- Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị Thu Tr ng - là Th k Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tú Oanh - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 05, 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ l số 223/2025/TLPT-DS ngày 06/10/2025 về việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và tranh chấp hợp đồng đặt cọc.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử phúc thẩm số 253/2025/QĐ-PT ngày 30 tháng 10 năm 2025, giữa các đ ơng sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969, có mặt

Bà Võ Thị L, sinh năm 1964, có mặt Đồng trú tại: Thôn D, xã B, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định). Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Huỳnh Ph ớc H – Luật s của Công ty L1 thuộc đoàn Luật s thành phố H (có mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1971, có mặt

Bà Tr n Thị C, sinh năm 1974, có mặt

Đồng trú tại: Thôn D, xã B, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Phi H2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn D, xã B, tỉnh Gia Lai (địa chỉ cũ: Khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định), vắng mặt.

+ Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định; địa chỉ: E đ ng T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ: Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai; địa chỉ: B N, Ph ng Q, tỉnh Gia Lai.

Người đại diện hợp pháp: Ông Phan Tiến V - Tr ởng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Gia Lai và ông Tr n Văn T1 – Phó Tr ởng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Gia Lai là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 24 tháng 11 năm 2025). (Ông V, ông T1 có đơn đề nghị xử vắng mặt).

Do có kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1 và bà Nguyễn Thị C1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L thống nhất trình bày:

Vợ chồng ông và vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C là hàng xóm sống g n nhau, nên từ năm 2015 đến năm 2020 ông H1, bà C có vay tiền vợ chồng ông nhiều l n cụ thể các l n vay nh sau:

+ Ngày 25/9/2015 (ÂL) vay 100.000.000 đồng.

+ Ngày 24/12/2016 (ÂL) vay 100.000.000 đồng.

+ Ngày 27/6/2018 (ÂL) vay 1.420.000.000 đồng.

+ Ngày 12/7/2019 (ÂL) vay 390.000.000 đồng.

+ Ngày 14/8/2020 (ÂL) vay 125.000.000 đồng.

Khi vay các bên không thống nhất th i gian trả nợ cụ thể, mà ông H1, bà C cam kết, khi nào vợ chồng ông c n lấy lại số tiền trên, thì họ sẽ trả, mục đích ông H1, bà C vay về đ u t kinh doanh bất động sản, mua bán xe máy nên khi vợ chồng ông đòi lại số tiền này, thì vợ chồng ông H1 bảo rằng không có tiền trả, nên có đặt vấn đề là đồng chuyển nh ợng hai thửa đất trong một khu v n tr ớc nhà ông Ứ cho vợ chồng ông với giá 2.200.000.000 đồng, để khấu trừ nợ (lúc này ông H1, bà C còn nợ vợ chồng ông 2.135.000.000 đồng), cụ thể là thửa đất số 596, t bản đồ số 08, địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định. Nh ng lúc này thửa đất trên ông H1 đang thế chấp vay tại Quỹ tín dụng thị trấn B, nên bảo vợ chồng ông cho vợ chồng ông H1 vay thêm 500.000.000 đồng, để đến trả nợ cho Quỹ tín dụng, rồi lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về làm thủ tục chuyển nh ợng cho vợ chồng ông; Sau khi ông cho vay thêm 500.000.000 đồng thì ông H1 trả nợ cho quỹ tín dụng Bình D ơng xong, rồi giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông cất giữ để thực hiện việc chuyển nh ợng thửa đất trên để cấn trừ nợ. Tổng cộng vợ chồng H1, bà C vay của vợ chồng ông là 2.635.000.000 đồng .

Tại phiên Tòa sơ thẩm l n thứ nhất ngày 13/6/2020 vợ chồng ông yêu c u ông H1 bà C trả số nợ, tiền vay gốc là 2.635.000.000 đồng, nh ng tại phiên Tòa phúc thẩm ngày 08/7/2022 vợ chồng ông xác nhận anh Nguyễn Phi H2 con ông H1, bà C đã chuyển khoản trả cho vợ chồng ông đ ợc 150.000.000đồng, nên vợ chồng ông chỉ yêu c u ông H1, bà C trả số tiền nợ còn lại 2.485.000.000 đồng.

Tại Bản án Phúc thẩm số 197/2022/DSPT, ngày 08/12/2022 của TAND tỉnh Bình Định tuyên xử buộc vợ chồng ông H1, bà C cùng có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông 2.883.937.000đồng (Trong đó nợ gốc 2.485.000.000 đồng và 398.937.000 đồng tiền lãi). Căn cứ Bản án Phúc thẩm nói trên vợ chồng ông yêu c u Thi hành án dân sự huyện P, thi hành Bản án trên và vợ chồng ông đã nhận lại tiền án phí sơ thẩm 42.350.000đồng, còn số tiền nợ, thì ch a thi hành đ ợc khoản nào, nh ng đến ngày 30/9/2024 Tòa án nhân dân cấp cấp tại Đ đã hủy bản án sơ thẩm, phúc thẩm trên.

Vì vậy nay vợ chồng ông tiếp tục yêu c u vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C cùng có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông tiền vay 2.485.000.000 đồng và tiền lãi từ khi thụ l vụ án sơ thẩm l n 1 (ngày 29/10/2020) cho đến nay (Ngày 01/8/2025) theo lãi suất 10%/tháng là 04 năm 09 tháng 03 ngày với số tiền lãi là 1.182.417.000 đồng; Tổng cộng nợ gốc và lãi là 3.667.417.000 đồng.

Đối với yêu c u phản tố của ông Nguyễn Thanh H1, yêu c u Hội đồng xét xử buộc vợ chồng ông phải chịu mất tiền cọc 500.000.000đồng, theo giấy bán đất ngày 14/8/2020 và trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 596, t bản đồ số 08, địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, thì vợ chồng ông có kiến nh sau: Tại th i điểm vợ chồng ông H1 đặt vấn đề chuyển nh ợng thửa đất trên cho vợ chồng ông để khấu trừ nợ, thì vợ chồng ông H1, bà C còn nợ vợ chồng ông là 2.135.000.000đồng, mà giá trị hai thửa đất tại th i điểm chuyển nh ợng chỉ có 2.200.000.000 đồng, nên không có việc ông đặt cọc 500.000.000đồng, để chuyển nh ợng thửa đất trên, mà số tiền 500.000.000 đồng này là vợ chồng ông cho ông H1 vay thêm để trả nợ cho Quỹ tín dụng Bình D ơng, rồi lấy lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm hợp đồng chuyển nh ợng cho vợ chồng ông. Mặc khác việc các bên không tiến hành xác lập hợp đồng chuyển nh ợng thửa đất trên là do lỗi bên phía gia đình ông H1, do bà C không đồng k chuyển nh ợng, nên vợ chồng ông không đồng xác định 500.000.000 đồng đây là tiền đặt cọc, mà đây là tiền vợ chồng ông cho ông H1, bà C vay. Đối với giấy chứng nhận thửa đất số 596, t bản đồ số 08, địa chỉ thửa đất: Thôn C, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định, tr ớc đây vợ chồng ông đã giao nộp cho Thi hành án huyện P để kê biên xử l tài sản của ông H1 trả nợ cho ông, đồng th i trả các khoản vay khác của các Bản án khác đã có hiệu lực pháp luật. Nếu Thi hành án giao lại giấy chứng nhận trên cho vợ chồng ông, thì vợ chồng đồng trả lại cho ông H1, sau khi ông H1, bà C thực hiện xong việc trả nợ (Trả xong tất cả khoản nợ gốc và lãi theo Bản án Tòa xét xử).

- Bị đơn ông Nguyễn Thanh H1 trình bày:

+ Giấy m ợn tiền ngày 25/9/2015 AL số tiền m ợn 100.000.000 đồng có chữ k vợ chồng Nguyễn Thanh H1, Tr n Thị C.

+ Giấy m ợn tiền ngày 24/12/2016 AL, số tiền m ợn 100.000.000đồng, có chữ k vợ chồng H1, C, vợ chồng ông thừa nhận có m ợn số tiền trên nh ng đã trả 150.000.000 đồng (anh Nguyễn Phi H2 con ông chuyển khoản trả cho vợ chồng ông T) và vợ chồng ông T đã thừa nhận việc này tại phiên Tòa phúc thẩm nên đã khấu trừ số tiền này vào nợ gốc, do đó hiện nay vợ chồng ông chỉ còn nợ 50.000.000 đồng, hai vợ chồng ông, đồng mỗi ng i trả 25.000.000 đồng cho vợ chồng ông T, bà L là hết nợ.

+ Đối với giấy Giấy m ợn tiền đề ngày ngày 27/6/2018 (AL) số tiền m ợn 1.420.000.000 đồng có chứ k Nguyễn Thanh H1, ng i bảo lãnh k tên Nguyễn Phi H2, ông viết và k tên, nh ng ông viết sai nên đã hủy, nh ng vợ chồng ông T giữ lại để kiện vợ chồng ông, và ng i cho m ợn không k tên và ghi vợ Nguyễn Phi H2 là sai.

+ Đối với Giấy m ợn tiền ngày 12/7/2019 (AL) số tiền 980.000.000đồng

+ 390.000.000 đồng, nh ng 980.000.000 đồng đã trả, giấy vay này chỉ nợ

390.000.000 đồng, chỉ có chữ k Nguyễn Thanh H1.

+ Giấy m ợn tiền ngày 14/8/2020 (AL) số tiền 125.000.000 đồng, có chữ ký Nguyễn Thanh H1. Hai giấy này ông viết và k tên, nh ng không có ghi là vay m ợn của ai nên ông không thừa nhận số nợ này.

+ Đối với số tiền 500.000.000 đồng ngày 14/8/2020 là tiền đặt cọc chuyển nh ợng thửa đất số 596, t bản đồ số 8, diện tích 315m2, ngày 14/8/2020, ông T, bà L vi phạm hợp đồng nên phải mất 500.000.000 đồng tiền đặt cọc, không phải tiền vay nh vợ chồng ông T trình bày.

Vì vậy ông có yêu c u phản tố sau:

Do ông T, bà L vi phạm hợp đồng, nên phải mất 500.000.000đồng tiền đặt cọc, theo hợp đồng mua bán đất ngày 14/8/2020, vợ chồng ông H1, bà C không phải trả lại tiền đặt cọc; Đồng th i buộc vợ chồng ông T, bà L và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ - Ng i kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai) trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông.

- Bị đơn bà Trần Thị C trình bày:

+ Giấy m ợn tiền ngày 25/9/2015 AL số tiền m ợn 100.000.000đồng có chữ k vợ chồng Nguyễn Thanh H1, Tr n Thị C.

+ Giấy m ợn tiền ngày 24/12/2016 AL, số tiền m ợn 100.000.000đồng, có chữ k vợ chồng H1, C, vợ chồng bà thừa nhận có m ợn số tiền trên nh ng đã trả 150.000.000 đồng chỉ còn nợ 50.000.000đồng, hai vợ chồng đồng mỗi ng i trả 25.000.000đồng.

Còn 03 giấy vay:

+ Giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018 AL, số tiền m ợn 1.420.000.000đồng, có chứ k Nguyễn Thanh H1, ng i bảo lãnh Nguyễn Phi H2.

+ Giấy m ợn tiền ngày 12/7/2019 AL, số tiền m ợn là 980.000.000đồng + 390.000.000đồng, nh ng 980.000.000đồng đã trả, giấy vay này chỉ nợ 390.000.000 đồng, chỉ có chữ k Nguyễn Thanh H1.

+ Giấy m ợn tiền ngày 14/8/2020 AL số tiền 125.000.000 đồng, có chữ ký Nguyễn Thanh H1. Trong 03 giấy vay này bà không có vay không liên quan đến khoản nợ trên, nên không đồng trả nợ chung.

Theo giấy bán đất ngày 14/8/2020, thì vợ chồng bà có bán cho vợ chồng ông T, bà L thửa đất 2.200.000.000đồng, nhận cọc tr ớc 500.000.000đồng, nh ng khi các bên đến UBND xã M làm thủ tục chuyển nh ợng, nh ng bà L ông T không trả đủ số tiền chuyển nh ợng, vì vậy bà không k chuyển nh ợng, nh ng sau đó bà L giữ lại hợp đồng và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để khởi kiện vợ chồng bà. Nên nay bà thống nhất nh yêu c u ông H1, yêu c u Hội đồng xét xử xác định số tiền 500.000.000 đồng không phải tiền vay mà tiền đặt cọc, nh ng vợ chồng ông T, bà L vi phạm hợp đồng nên phải mất cọc, đồng th i yêu c u vợ chồng bà L, ông T và Thi hành án dân sự huyện P - Ng i thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ- Người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai do ông Phan Tiến V - Trưởng phòng thi hành án dân sự khu vực 3- Gia Lai đại diện theo ủy quyền trình bày:

Chi cục Thi hành thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ đang tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ và Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đã có hiệu lực pháp luật, nh sau: Bản án số 160/2022/DSPT ngày 08 tháng 9 năm 2022, Quyết định số 08/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 02 năm 2023 và Bản án số: 11/2024/DSPT ngày 10 tháng 01 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định; Bản án số 21/2022/DSST ngày 19 tháng 4 năm 2022, Bản án số 17/2022/DSST ngày 28 tháng 02 năm 2022, Bản án số 14/2022/DS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022, Bản án số 131/2023/DS-ST ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ; đ ợc thụ l thi hành án tại các Quyết định thi hành án số 272/QĐ-CCTHADS ngày 22 tháng 6 năm 2022; số 347/QĐ-CCTHADS, ngày 26 tháng 8 năm 2022; số 03/QĐ-CCTHADS ngày 12 tháng 10 năm 2022; số 04/QĐ-CCTHADS ngày 14 tháng 10 năm 2022; số 281/QĐ-CCTHADS ngày 10 tháng 4 năm 2023; số 329/QĐ-CCTHADS ngày 24 tháng 4 năm 2023; số 50/QĐ-CCTHADS ngày 15 tháng 10 năm 2024 và số 175/QĐ-CCTHADS ngày 16 tháng 12 năm 2024 của Chi cục tr ởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ.

Tại các Quyết định thi hành án nêu trên thì vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1 (sinh năm 1971, CMND số xxxxxxxxx – CCCD số xxxxxxxxxxxx), bà Tr n Thị C (sinh năm 1974, CMND số xxxxxxxxx) là ng i phải thi hành án các khoản nh sau:

- Ông Nguyễn Thanh H1 phải trả cho ông Tr ơng Quang T2, bà Nguyễn Thị N số tiền 100.000.000 đồng (Quyết định thi hành án số: 272/QĐ-CCTHADS ngày 22/6/2022);

Phải nộp 5.000.000 đồng án phí DSST (Quyết định thi hành án số: 347/QĐ-CCTHADS ngày 26/8/2022).

- Ông Nguyễn Thanh H1 phải trả cho ông Bùi Tuấn V1, bà Hà Thị Ánh T3 số tiền 2.495.737.000 đồng và lãi phát sinh do chậm thi hành án (Quyết định thi hành án số: 03/QĐ-CCTHADS ngày 12/10/2022);

Phải nộp 81.915.000 đồng án phí DSST (Quyết định thi hành án số: 04/QĐ-CCTHADS ngày 14/10/2022).

- Vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C phải trả cho bà Nguyễn Thị N1 số tiền 1.360.392.694 đồng và lãi phát sinh do chậm thi hành án (Quyết định thi hành án số: 281/QĐ-CCTHADS ngày 10/4/2023);

Phải nộp 52.811.780 đồng án phí DSST (Quyết định thi hành án số: 329/QĐ-CCTHADS ngày 24/4/2023).

- Vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C phải trả cho Ông Phạm Công T4, bà Phạm Thị Ánh T5 số tiền 135.000.000 đồng và lãi phát sinh do chậm thi hành án (Quyết định thi hành án số 175/QĐ-CCTHADS ngày 16 tháng 12 năm 2024).

Vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C phải nộp 6.750.000 đồng án phí (Quyết định thi hành án số 50/QĐ-CCTHADS ngày 15 tháng 10 năm 2024).

Trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã phối hợp với địa ph ơng thông báo hợp lệ các Quyết định thi hành án cho đ ơng sự, những ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết, thực hiện; đã hết th i gian tự nguyện nh ng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C không tự nguyện thi hành án. Qua kết quả xác minh điều kiện thi hành án thì vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C có tài sản, gồm: Quyền sử dụng đất, các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 596, t bản đồ số 08, địa chỉ: xã M, huyện P (nay thuộc khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định) đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 163983, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00031QSDĐ/D4 ngày 16 tháng 8 năm 2002, đ ợc Văn phòng đăng k quyền sử dụng đất huyện P cấp thay đổi sang tên ông Nguyễn Thanh H1 vào ngày 03/03/2011 và các tài sản khác đứng tên chủ sở hữu và sử dụng của vợ chồng ông H1, bà C. Qua kết quả xác minh tại Chi nhánh Văn phòng đăng k đất đai huyện P thì tài sản là quyền sử dụng đất nói trên không có đăng k giao dịch bảo đảm cho tổ chức, cá nhân nào theo quy định pháp luật.

Để đảm bảo công tác tổ chức thi hành án dân sự đúng quy định pháp luật; Căn cứ Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 9, Điều 45, Điều 46, Ch ơng IV (Biện pháp bảo đảm và c ỡng chế thi hành án – từ Điều 66 đến Điều 121) Luật Thi hành án dân sự; xét thấy ông H1, bà C có điều kiện thi hành án nh ng không tự nguyện thi hành, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định về việc c ỡng chế kê biên, xử l tài sản số 10/QĐ-CCTHADS ngày 10 tháng 3 năm 2023, tài sản kê biên, xử l là: Quyền sử dụng đất, các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 596, t bản đồ số 08, địa chỉ: xã M, huyện P (nay thuộc khu phố D, thị trấn B, huyện P, tỉnh Bình Định) đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 163983, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00031QSDĐ/D4 ngày 16 tháng 8 năm 2002, đ ợc Văn phòng đăng k quyền sử dụng đất huyện P cấp thay đổi sang tên ông Nguyễn Thanh H1 vào ngày 03/03/2011 và các tài sản khác đứng tên chủ sở hữu và sử dụng của vợ chồng ông H1, bà C để thi hành án.

Ngày 22/11/2023 Chấp hành viên đã phối hợp với các ngành, địa ph ơng tiến hành tổ chức c ỡng chế kê biên, xử l các tài sản của ông H1, bà C để đảm bảo thi hành án dân sự. Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu c u ng i phải thi hành án, ng i đang quản l giấy t về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy t đó cho cơ quan thi hành án dân sự theo quy định pháp luật; vì vậy hiện nay bản chính Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 596, t bản đồ số 08, đã đ ợc Ủy ban nhân dân huyện P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V 163983, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 00031QSDĐ/D4 ngày 16 tháng 8 năm 2002 Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ đang l u giữ để thi hành án theo quy định của Luật Thi hành án dân sự (Điều 111 và các Điều luật khác có liên quan).

Hiện nay, các tài sản đã tổ chức c ỡng chế, kê biên nói trên đang tổ chức bán đấu giá để thi hành án dân sự theo quy định pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Phi H2 trình bày: Anh là con của ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C, tr ớc đây cha mẹ anh có nh anh chuyển khoản trả cho vợ chồng ông T, bà L số tiền 150.000.000đồng tiền gốc, sự việc này đã đ ợc vợ chồng ông T, bà L xác nhận tại phiên Tòa phúc thẩm ngày 08/12/2022; Đối với số tiền nợ 1.420.000.000 đồng theo giấy vay tiền ngày 27/6/2018 (AL), thì cha anh có k vào giấy m ợn tiền này, anh có k vào giấy đó với t cách là ng i bảo lĩnh, nh ng thực tế cha con anh không nhận đ ợc số tiền này và anh cũng không liên quan gì đến khoản nợ trên, nên đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.

Bản án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Gia Lai quyết định:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Căn cứ Khoản 2, khoản 5 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L.

2. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L số tiền 3.667.417.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm sáu m ơi bảy triệu bốn trăm m i bảy nghìn đồng); Trong đó nợ gốc 2.485.000.000 đồng và lãi 1.182.417.000 đồng.

3. Không chấp nhận yêu c u phản tố của ông Nguyễn Thanh H1, về việc yêu c u xác định số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu) đồng, ông Nguyễn Thanh H1 đã nhận của vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L trong giấy bán đất ngày 14/8/2020 là tiền đặt cọc.

4. Không chấp nhận yêu c u phản tố của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, về việc yêu c u nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ - Ng i kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V163983 tại thửa đất số 596, t bản đồ số 8, tọa lạc tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Địa chỉ thửa đất hiện nay là xã B, tỉnh Gia Lai).

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

5.1 Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C phải chịu 105.348.000 đồng (Một trăm không năm triệu ba trăm bốn m ơi tám nghìn) đồng tiền án phí sung ngân sách nhà n ớc.

5.2 Buộc ông Nguyễn Thanh H1 phải chịu 25.000.000 đồng (Hai m ơi lăm triệu) đồng tiền án phí sung ngân sách nhà n ớc. Nh ng đ ợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 12.500.000 đồng mà ông Nguyễn Thanh H1, đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004416, ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ (Nay là thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).

5.3 Hoàn trả cho vợ chồng bà Võ Thị L, ông Nguyễn Văn T 42.000.000 đồng (Bốn m ơi hai triệu) đồng tiền tạm ứng án phí mà vợ chồng ông T, bà L đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004261, ngày 20/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (Nay thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai).

Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn quyết định về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các bên đ ơng sự.

Ngày 12/8/2025 và ngày 26/8/2025, bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C kháng cáo và kháng cáo bổ sung yêu c u Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm, cụ thể: Không chấp nhận một số khoản tiền vay của ông T, bà L theo 03 giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018 (ÂL), ngày 12/7/2019 (ÂL), ngày 14/8/2020 (ÂL) và không chấp nhận liên đới với nhau trả các khoản tiền vay này cho ông T, bà L. Không chấp nhận trả 500.000.000 đồng tiền cọc do ông T, bà L vi phạm hợp đồng. Yêu c u ông T, bà L và Thi hành án dân sự khu vực 3, tỉnh Gia Lai trả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông bà. Không chấp nhận ph n án phí. Buộc ông T, bà L bồi th ng thiệt hại do giữ GCNQSDĐ số 00031 ngày 16/8/2002 trái pháp luật, gây thiệt hại cho hộ kinh doanh gia đình ông bà.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu c u khởi kiện; các bị đơn giữ nguyên yêu c u kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai phát biểu: Trong quá trình tố tụng, ng i tiến hành tố tụng và ng i tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; Đồng th i đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bán án dân sự sơ thẩm số 03/2025/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 3 - Gia Lai; về án phí: Theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về sự vắng mặt của các đ ơng sự: Những ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai có đơn đề nghị xử vắng mặt, anh Nguyễn Phi H2 đã đ ợc triệu tập hợp lệ l n thứ hai nh ng vắng mặt. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

. Nội dung vụ án: Theo nguyên đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L thì từ năm 2015 đến năm 2020, vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C nhiều l n vay của ông bà với tổng số tiền 2.635.000.000 đồng, cụ thể: Ngày 25/9/2015 (AL) vay 100.000.000 đồng; ngày 24/12/2016 (AL) vay 100.000.000 đồng; ngày 27/6/2018 (AL) vay 1.420.000.000 đồng; ngày 12/7/2019 (AL) vay 390.000.000 đồng; ngày 14/8/2020 (AL) vay 125.000.000 đồng và cùng ngày vay thêm 500.000.000 đồng để trả nợ Quỹ tín dụng; các l n vay đều viết Giấy m ợn tiền, mục đích vay để đ u t kinh doanh; ông H1, bà C giao cho ông bà 01 GCNQSDĐ để thực hiện việc chuyển nh ợng thửa đất cấn trừ nợ. Anh Nguyễn Phi H2 là con của ông H1, bà C đã chuyển khoản trả 150.000.000 đồng. Số tiền còn lại, ông bà nhiều l n yêu c u ông H1, bà C trả nh ng ông H1, bà C không trả, nên ông bà khởi kiện yêu c u ông H1, bà C trả 2.485.000.000 đồng tiền vay gốc và tiền lãi là 1.182.417.000 đồng, tổng cộng là 3.667.417.000 đồng.

Bị đơn ông H1, bà C chỉ thừa nhận vay của vợ chồng ông T, bà L 200.000.000 đồng theo các giấy m ợn tiền ngày 25/9/2015 và 24/12/2016, nh ng đã trả 150.000.000 đồng và chỉ còn nợ 50.000.000 đồng; còn các giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018, ngày 12/7/2019 và ngày 14/8/2020 thì ông H1 thừa nhận chữ k trong các giấy m ợn tiền là của ông nh ng ông cho rằng viết sai nên huỷ nh ng nguyên đơn giữ lại để kiện ông, các giấy này không ghi tên ng i cho m ợn tiền, nên không đồng trả; bà C thì cho rằng 03 giấy vay này bà không vay, không liên quan, nên không đồng trả. Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng là tiền ông T, bà L đặt cọc mua đất nh ng không thực hiện nên mất cọc; ông bà yêu c u ông T, bà L và Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai trả lại GCNQSDĐ và ông T, bà L phải bồi th ng thiệt hại do giữ GCNQSDĐ của ông bà quá lâu, ông bà không kinh doanh mua bán đ ợc.

. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C, HĐXX thấy rằng:

. Đối với số tiền 200.000.000 đồng theo các giấy m ợn tiền ngày 25/9/2015 (AL) và ngày 24/12/2016 (AL): Các bên đều thống nhất ông H1, bà C có vay số tiền trên và anh Nguyễn Phi H2 (là con của ông H1, bà C) đã chuyển khoản trả cho ông T, bà L 150.000.000 đồng, nên ông H1, bà C còn nợ 50.000.000 đồng và đồng trả số tiền này, nên cấp sơ thẩm buộc các bị đơn liên đới trả cho nguyên đơn là có căn cứ.

. Đối với các khoản vay theo các giấy m ợn tiền: Ngày 27/6/2018 (AL) với số tiền m ợn 1.420.000.000 đồng, ngày 12/7/2019 (AL) với số tiền 390.000.000 đồng, ngày 14/8/2020 (AL) với số tiền 125.000.000 đồng:

Ông H1 thừa nhận chữ k trong các giấy m ợn tiền là của ông nh ng ông cho rằng đối với giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018 (AL) thì ông viết sai nên huỷ nh ng nguyên đơn giữ lại để khởi kiện ông; còn các giấy m ợn tiền ngày 12/7/2019 (AL) và ngày 14/8/2020 (AL) thì không ghi tên ng i cho m ợn tiền. Do đó, ông không đồng trả các khoản tiền trên. HĐXX thấy rằng: Ông H1 thừa nhận chữ k trên các giấy m ợn tiền này là của ông. Ông trình bày những l do không chấp nhận trả các khoản tiền trên nh ng không có căn cứ chứng minh. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án, ông H1 nhiều l n thay đổi l i khai, có lúc ông khai không m ợn tiền, có lúc khai đã trả xong hết nợ, nguyên đơn lấy lại giấy nợ đã hủy bỏ để khởi kiện là có sự mâu thuẫn, thể hiện tính không trung thực nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định ông H1 có vay tiền của ông T, bà L theo 03 giấy m ợn nợ trên.

. Đối với khoản tiền 500.000.000 đồng:

Tại giấy bán đất đề ngày 14/8/2020 ghi ông H1, bà C bán cho ông T, bà L thửa đất giá 2.200.000.000 đồng, đã nhận cọc 500.000.000 đồng, đoạn sau của giấy ghi: “Ngày 13/9/2020: Tôi hẹn tuần tới tôi sẽ gửi lại cho anh chị L. Nếu không bán đất tôi sẽ gửi lại số tiền cho chị L 500.000.000 đồng”. Nguyên đơn giải thích nội dung trên có nghĩa là vợ chồng ông H1, bà C còn nợ ông bà 2.435.000.000 đồng, mà giá trị thửa đất chỉ có 2.200.000.000 đồng, nên khi chuyển nh ợng thửa đất trên để khấu trừ nợ thì bị đơn vẫn còn nợ tiền của vợ chồng ông bà, nên ông H1 mới ghi nh vậy có nghĩa là tu n sau (kể từ ngày 13/9/2020) nếu ông H1 không bán đ ợc đất thì vẫn trả lại cho vợ chồng ông bà 500.000.000 đồng; còn theo ông H1 giải thích thì 500.000.000 đồng là tiền đặt cọc mua bán đất, nh ng do vợ chồng ông T, bà L vi phạm hợp đồng nên xin lại số tiền trên, ông H1 thấy tội nên viết lại nội dung này, nếu ông bán đ ợc thửa đất trên cho ng i khác, thì ông cho lại số tiền đặt cọc. Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế vợ chồng ông H1, bà C có vay m ợn tiền của vợ chồng ông T, bà L nhiều l n, nên việc vợ chồng ông T, bà L cho vợ chồng ông H1 m ợn tiền để giải chấp tại Quỹ tín dụng, lấy sổ đỏ ra để chuyển nh ợng QSD đất cấn trừ nợ nh l i trình bày của nguyên đơn là có cơ sở, thể hiện qua hợp đồng chuyển nh ợng quyền sử dụng đất ngày 20/8/2020. Theo xác nhận của UBND xã M thì việc các bên không thực hiện hợp đồng chuyển nh ợng là vì bà C không ký vào hợp đồng chuyển nh ợng. Do đó, l i giải thích của bị đơn về việc nguyên đơn vi phạm hợp đồng là không có căn cứ. Ngoài ra, mặc dù giấy này có hình thức thể hiện Giấy bán đất, nội thể hiện đặt cọc mua đất. Tuy nhiên, nội dung không đ y đủ, không rõ ràng, không thể hiện cụ thể th i gian đặt cọc, ph ơng thức đặt cọc và thanh toán, vợ chồng ông T, bà L không k vào giấy này. Hơn nữa ông H1, bà C đang còn nợ vợ chồng ông T, bà L số tiền 2.135.000.000 đồng (anh H2 đã chuyển trả 150.000.000 đồng) nên chỉ còn nợ 1.985.000.000đồng, nh ng thửa đất trị giá 2.200.000.000 đồng thì việc ông T, bà L đặt cọc tới 500.000.000 đồng, để nhận chuyển nh ợng thửa đất là không thực tế; việc đặt cọc chuyển nh ợng quyền sử dụng đất là không có thật, chỉ nhằm che giấu cho giao dịch vay tài sản, không phải là chí đặt cọc thực tế giữa các bên. Do đó, có căn cứ xác định số tiền 500.000.000 đồng đó là tiền vợ chồng ông T cho vợ chồng ông H1, bà C vay để trả nợ cho Quỹ tín dụng Bình D ơng.

Về lãi suất:

Khi xác lập hợp đồng vay các bên không thỏa thuận th i gian trả nợ và lãi suất, nh ng khi đến hạn vợ chồng ông H1, bà C không trả đủ số tiền đã vay nên phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả t ơng ứng với th i gian chậm trả. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 4 Điều 466 BLDS, chấp nhận yêu c u của ông T, bà L về việc yêu c u tính lãi đối với các khoản vay trên từ ngày Tòa án thụ l sơ thẩm l n đ u (ngày 29/10/2020) cho đến ngày xét xử sơ thẩm l n 02 (ngày 01/8/2025) là 04 năm 09 tháng 03 ngày, mức lãi suất 10%/năm, với tổng số tiền 1.182.417.000 đồng là có căn cứ.

. Về kháng cáo không chấp nhận liên đới trả nợ của bà C:

Tuy bà C không k vào các giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018 (AL), 12/7/2019 (AL) và 14/8/2020 (AL), nh ng tr ớc đó vợ chồng bà đã m ợn tiền của vợ chồng ông T, bà L và trong các giấy m ợn tiền đều thể hiện mục đích để giải quyết việc gia đình hoặc lo công việc. Thực tế, th i điểm vay tiền thì vợ chồng ông H1, bà C đang đăng k hộ kinh doanh cá thể, mua bán xe máy, kinh doanh bất động sản. Trong th i gian vay m ợn và hiện tại, ông H1 bà C là vợ chồng hợp pháp. Do đó, khoản vay này là khoản vay nhằm đáp ứng nhu c u kinh doanh, phục vụ nhu c u thiết yếu của gia đình. Bà C cho rằng, các khoản vay theo 03 giấy m ợn trên do ông H1 vay, bà không liên quan nên không đồng trả nh ng không cung cấp đ ợc tài liệu, chứng cứ để chứng minh ông H1 vay vì mục đích cá nhân ông H1, bà C không sử dụng số tiền vay trên. Do đó theo quy định tại Điều 27, Điều 37 của Luật hôn nhân gia đình, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà C phải có nghĩa vụ liên đới cùng ông H1 trả nợ các khoản vay trên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Theo giấy m ợn tiền ngày 27/6/2018 với số tiền 1.420.000.000 đồng, anh Nguyễn Phi H2 là con của ông H1, bà C k với t cách ng i bảo lãnh. Tuy nhiên, ông H1 xác định anh H2 không liên quan gì đến số tiền này và vợ chồng ông T, bà L không yêu c u anh H2 có trách nhiệm trả khoản nợ này, nên không buộc anh H2 có nghĩa vụ liên đới trả nợ chung là phù hợp quy định pháp luật.

Về kháng cáo không chấp nhận trả 500.000.000 đồng tiền cọc do ông T, bà L vi phạm hợp đồng, HĐXX xét thấy: Ông H1 có yêu c u phản tố cho rằng số tiền 500.000.000 đồng là tiền vợ chồng ông T, bà L đặt cọc mua đất theo hợp đồng mua bán đất ngày 14/8/2020, nh ng ông T, bà L vi phạm hợp đồng, nên phải mất tiền đặt cọc, vợ chồng ông không đồng trả lại khoản tiền này. Xét thấy, nh nhận định tại mục [3.3], việc đặt cọc chuyển nh ợng quyền sử dụng đất là không có thật, chỉ nhằm che giấu cho giao dịch vay tài sản, không phải là chí đặt cọc thực tế giữa các bên. Do đó, có căn cứ xác định số tiền 500.000.000 đồng đó là tiền vợ chồng ông T cho vợ chồng ông H1, bà C vay để trả nợ cho Quỹ tín dụng Bình D ơng nên yêu c u trên của ông H1 không có căn cứ để chấp nhận.

Về kháng cáo yêu c u ông T, bà L và Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai (là ng i kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng là Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ) trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2022 cho vợ chồng ông H1 bà C, HĐXX xét thấy: Ông H1 bà C là ng i phải thi hành bản án số 160/2022/DSPT ngày 08/9/2022, Quyết định số 08/2023/QĐ-PT ngày 14/02/2023, Bản án số 11/2024/DSPT ngày 19/4/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định, Bản án số 17/2022/DSST ngày 28/02/2022, Bản án số 14/2022/DS-ST ngày 20/01/2022, Bản án số 131/2023/DS-ST ngày 08/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Phù Mỹ. Tuy có điều kiện thi hành án nh ng ông H1 bà C không tự nguyện thi hành nên theo quy định tại Điều 2, Điều 4, Điều 5, Điều 9, Điều 45, Điều 46 và các điều từ Điều 66 đến Điều 121 Luật Thi hành án dân sự, Chấp hành viên đã ban hành Quyết định về việc c ỡng chế kê biên, xử l tài sản là: Quyền sử dụng đất, các tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 596, t bản đồ số 08 thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2002 của ông H1, bà C là đúng quy định của pháp luật. Khi kê biên quyền sử dụng đất, Chấp hành viên yêu c u ng i phải thi hành án, ng i đang quản l giấy t về quyền sử dụng đất phải nộp các giấy t đó cho Cơ quan thi hành án dân sự theo quy định pháp luật. Do đó việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ (Nay là Phòng thi hành án khu vực 3 – Gia Lai) l u giữ giấy chứng nhận QSD đất nêu trên để thi hành án là đúng quy định của pháp luật nên HĐXX không có căn cứ để chấp nhận yêu c u của bị đơn.

Về kháng cáo buộc ông T, bà L bồi th ng thiệt hại do giữ GCNQSDĐ số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2002 trái pháp luật, gây thiệt hại cho hộ kinh doanh gia đình ông bà, xét thấy: Tại cấp sơ thẩm ông H1 có yêu c u Tòa án giải quyết buộc ông T, bà L bồi th ng thiệt hại cho ông H1, bà C nh ng không trình bày cụ thể số tiền bồi th ng. Tại phiên đối chất, ông H1 đề nghị Tòa án cho ông th i gian để trình bày cụ thể số tiền bồi th ng và cung cấp chứng cứ cho Tòa, nh ng sau đó ông H1 cũng nh bà C không có ai trình bày yêu c u và không cung cấp chứng cứ cho Tòa án để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tại phiên tòa sơ thẩm ông H1, bà C cũng không trình bày yêu c u bồi th ng thiệt hại; lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải nhận định yêu c u này của bị đơn trong bản án, nh ng cấp sơ thẩm không nhận định và quyết định là có thiếu sót. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ (Nay là Phòng thi hành án khu vực 3 - Gia Lai) l u giữ giấy chứng nhận QSD đất số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2002 là đúng quy định của pháp luật; ông H1, bà C là ng i quản l , sử dụng đất nên việc giữ giấy chứng nhận QSD đất không gây thiệt hại cho ông H1, bà C. Tại phiên tòa phúc thẩm, không H1, bà C yêu c u bồi th ng thiệt hại nh ng không đ a ra đ ợc số tiền cụ thể là bao nhiêu, gồm những khoản nào. Do đó, việc hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại yêu c u phản tố này là không c n thiết, vì thiếu sót trên không làm thay đổi bản chất vụ án và không ảnh h ởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đ ơng sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông H1, bà C.

Về án phí DSST:

- Vợ chồng ông H1, bà C có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông T, bà L tổng số tiền cả gốc và lãi là 3.667.417.000 đồng, nên phải chịu 105.348.000 đồng là phù hợp quy định pháp luật.

- Ông H1 có yêu c u phản tố đối với số tiền 500.000.000 đồng nh ng không đ ợc chấp nhận, nên phải chịu 24.000.000 đồng án phí. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm buộc ông H1 phải chịu 25.000.000 đồng là không đúng quy định của pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một ph n kháng cáo về án phí.

- Yêu c u khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L đ ợc chấp nhận, nên ông T, bà L không phải chịu. Hoàn trả cho vợ chồng ông T, bà L 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Từ những phân tích trên, HĐXX phúc thẩm chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C. Sửa một ph n bản án sơ thẩm về ph n án phí dân sự sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo đối với các ph n còn lại của bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C đ ợc chấp nhận một ph n, nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban th ng vụ Quốc hội.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm; về án phí theo quy định của pháp luật là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Điều 357, 463, 466, khoản 2 Điều 468 và Điều 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 và Điều 37 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

- Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 2, khoản 5 Điều 26; Khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một ph n kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C, sửa bản án sơ thẩm về ph n án phí dân sự sơ thẩm; không chấp nhận kháng cáo đối với các ph n còn lại của bản án sơ thẩm.

1.1. Chấp nhận toàn bộ yêu c u khởi kiện của nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L. Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C có nghĩa vụ trả cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L số tiền 3.667.417.000 đồng (Ba tỷ sáu trăm sáu m ơi bảy triệu bốn trăm m i bảy nghìn đồng); Trong đó nợ gốc: 2.485.000.000 đồng và lãi: 1.182.417.000 đồng.

1.2. Không chấp nhận yêu c u phản tố của ông Nguyễn Thanh H1, về việc yêu c u xác định số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), ông Nguyễn Thanh H1 đã nhận của vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L trong giấy bán đất ngày 14/8/2020 là tiền đặt cọc.

1.3. Không chấp nhận yêu c u phản tố của bị đơn ông Nguyễn Thanh H1, về việc yêu c u nguyên đơn vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L và ng i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ - Ng i kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng là Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2002 tại thửa đất số 596, t bản đồ số 8, tọa lạc tại xã M, huyện P, tỉnh Bình Định (Địa chỉ thửa đất hiện nay là xã B, tỉnh Gia Lai).

1.4. Không chấp nhận yêu c u phản tố của ông Nguyễn Thanh H1 về việc yêu c u ông T, bà L bồi th ng thiệt hại do giữ GCNQSDĐ số vào sổ 00031QSDĐ/D4 cấp ngày 16/8/2002 trái pháp luật, gây thiệt hại cho hộ kinh doanh gia đình ông bà.

1.4. Về án phí:

1.4.1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C phải chịu 105.348.000 đồng.

- Buộc ông Nguyễn Thanh H1 phải chịu 24.000.000 đồng. Nh ng đ ợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 12.500.000 đồng mà ông Nguyễn Thanh H1, đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004416, ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3-Gia Lai). Ông H1 còn phải nộp 11.500.000 đồng.

- Hoàn trả cho vợ chồng bà Võ Thị L, ông Nguyễn Văn T 42.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004261 ngày 20/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3 - Gia Lai).

1.4.2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Vợ chồng ông Nguyễn Thanh H1, bà Tr n Thị C không phải chịu. Hoàn trả cho ông H1, bà C 600.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0001881 ngày 26/8/2025 và số 0001880 ngày 26/8/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai.

2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

3.1. Kể từ ngày có đơn yêu c u thi hành án của ng i đ ợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất qui định tại Điều 357 khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

3.2. Tr ng hợp bản án,quyết định đ ợc thi hành theo quy đinh tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì ng i đ ợc thi hành án dân sự, ng i phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án,quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự, th i hiệu thi hành án đ ợc thực hiện theo quy định điều 30 luật thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ