- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "HNGĐ"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177 /2024/HNGĐ-ST Ngày 23 / 7 /2024 Về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Thu Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đặng Thị Huệ
2. Ông Phạm Văn Ninh
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Thảo Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Cường – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Sơn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2024/TLST- HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị X, sinh năm 1973
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh T.
- Bị đơn: Ông Hoàng Văn N, sinh năm 1968
Địa chỉ: Thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh T.
( Bà X và ông N đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn ngày 04/12/1992 tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Y, tỉnh T. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hoà thuận bình thường, sau đó bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống và lối sống; đến năm 2022 bà X đã yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn nhưng lúc đó ông N xin lỗi và cam kết sửa đổi tính nết nên bà X rút đơn đoàn tụ với ông N. Nay bà Cao Thị X xác định vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không còn yêu thương và tôn trọng nhau, không thể tiếp tục chung sống với nhau nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông N. Ông Hoàng Văn N cũng xác định: Đến năm 2023 thì giữa ông và bà X đã mâu thuẫn trầm trọng nên ông nhất trí ly hôn, đề nghị Toà án giải quyết cho ông được ly hôn với bà Cao Thị X.
Về con chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N cùng thống nhất xác định có 02 con chung là Hoàng Thị L, sinh ngày 25/9/1993 và Hoàng Văn H, sinh ngày 07/11/1996 hiện cả hai con đều đã trên 18 tuổi và đã có cuộc sống gia đình riêng nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N tự thoả thuận, không đề nghị Toà án giải quyết.
Về vay nợ chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N xác định không có nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án nhân dân huyện Yên Sơn đã tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N nhưng cả hai ông bà đều có đơn đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và xin vắng mặt tại phiên toà, đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Bà Cao Thị X giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Hoàng Văn N; ông N nhất trí với yêu cầu ly hôn của bà X; không ai đề nghị Toà án giải quyết vấn đề nào khác.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn khi tham gia tố tụng dân sự đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N có đăng ký kết hôn ngày 04/12/1992 tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh T là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn không thể hoà giải được. Bà X đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn và ông N cũng đồng ý nhưng cả hai đều không có mặt tại các buổi hoà giải do Toà án tiến hành. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Cao Thị X và ý kiến của ông Hoàng Văn N; Bà X và ông N đều xác định có 02 con chung đều đã trên 18 tuổi; ông bà có tài sản chung nhưng tự thoả thuận và không có vay nợ chung nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Bà Cao Thị X phải chịu án phí; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ (tống đạt trực tiếp, gửi bảo đảm qua đường bưu điện) các văn bản tố tụng cho nguyên đơn và bị đơn. Tại phiên toà, bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định pháp luật.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn đúng quy định pháp luật tại UBND xã L, huyện Y, tỉnh T vào ngày 04/12/1992. Như vậy quan hệ hôn nhân của bà X và ông N là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nhưng không có cách giải quyết; bà Cao Thị X có đơn yêu cầu ly hôn với ông Hoàng Văn N. Bà X và ông N đều đề nghị Toà án không tiến hành hoà giải và cùng xác định vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, xin được ly hôn.
Quá trình Toà án giải quyết, bà X và ông N có mặt và có bản tự khai nhưng đều xin vắng mặt tại các phiên họp và phiên hoà giải do Toà án tiến hành. Như vậy, có đủ cơ sở cho thấy hôn nhân của bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N đã lâm vào tình trạng thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng tiếp tục chung sống. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận xử cho bà Cao Thị X được ly hôn với ông Hoàng Văn N.
Về con chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N cùng xác định có 02 con chung là Hoàng Thị L, sinh ngày 25/9/1993 và Hoàng Văn H, sinh ngày 07/11/1996; cả hai con đều phát triển bình thường và hiện đã trên 18 tuổi, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N cùng xác định vợ chồng có tài sản chung nhưng tự thoả thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về vay nợ chung: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N cùng xác định vợ chồng không có vay nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà Cao Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; ông Hoàng Văn N không phải nộp án phí.
Về quyền kháng cáo: Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 166, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51 và 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Xử: Cho bà Cao Thị X được ly hôn ông Hoàng Văn N.
2. Về án phí:
Bà Cao Thị X phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án ký bởi Công ty cổ phần thanh toán quốc gia Việt Nam ngày 10/5/2024 tương ứng với Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000782 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Bà Cao Thị X đã nộp đủ án phí của vụ án.
Ông Hoàng Văn N không phải nộp án phí.
Bà Cao Thị X và ông Hoàng Văn N vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Yên Sơn (02 bản); - CC THA DS huyện Yên Sơn (để thi hành); - UBND xã L, huyện Y, tỉnh T (để biết); - Các đương sự (để thi hành); - Lưu HS vụ án; - Lưu TA. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG Đặng Thị Huệ Phạm Văn Ninh Báo cáo xét xử vụ án HNGĐ Quang Hội đồng xét xử sơ thẩm: Thẩm phán Đào Thị Thu Thuỷ Các Hội thẩm nhân dân: Lý Thúy Hà và Lý Thị Nhân - Thư ký: Phạm Kim Tuyến - Kiểm sát viên Nguyễn Thị Linh Các đương sự: - Nguyên đơn: Chị Trần Thanh Nga, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Có đơn xin xét xử vắng mặt. - Bị đơn: Anh Hoàng Văn Sơn, sinh năm 1988 Quang. NỘI DUNG VỤ ÁN: đăng ký kết hôn ngày 03/5/2009 tại Ủy ban nhân dân xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Theo chị Nga thì vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn lớn do cách sống hai bên không hòa hợp, luôn xảy ra xung khắc nhất là về làm ăn kinh tế, anh Sơn thường xuyên rượu chè và không tôn trọng gia đình chị. Đỉnh điểm là năm 2018, anh Sơn lao vào cờ bạc không dứt ra được mặc dù hai bên gia đình khuyên can, hậu quả phải bán nhà đất để trả nợ. Do cuộc sống như vậy nên chị đã phải đưa con nhỏ về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống, vợ chồng ly thân từ năm 2018 đến nay không còn liên quan gì đến nhau. Nay chị Trần Thanh Nga xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống không có tương lai, không thể đoàn tụ chung sống được nữa, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Sơn. tên là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009, hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Chị Nga đề nghị được tiếp tục nuôi dưỡng con chung sau ly hôn, không yêu cầu anh Sơn cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Toà án giải quyết. nhiều lần báo gọi làm việc, tiến hành các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn nhưng anh Sơn đều vắng mặt không có lý do. Văn Sơn và chị Trần Thanh Nga được tự do tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn, có tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Anh chị chung sống tại tổ 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang thời gian đầu hạnh phúc, sau khoảng 4-5 năm thì mâu thuẫn, trục trặc do bất đồng trong cuộc sống và làm ăn kinh tế, anh Sơn là lao động tự do công việc không ổn định. Sau đó chị Nga đi làm công nhân ở Thái Nguyên, vợ chồng xa cách nên tình cảm không còn. Khoảng năm 2015 chị Nga chuyển về ở nhà ngoại và đến năm 2020 thì chị chuyển khẩu về Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Anh chị Sơn – Nga có 01 con chung hiện đang do chị Nga nuôi dưỡng. Anh chị không có tài sản chung gì có giá trị và không thấy vay nợ của ai. Hiện anh Sơn đang đi làm xa không biết địa chỉ chính xác, gia đình có thông báo qua điện thoại cho anh Sơn về giải quyết ly hôn theo các văn bản của Tòa án nhưng vì công việc anh không về được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn tự nguyện kết hôn, sau đó sinh sống tại tổ 6 (tổ 9 cũ), phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang. Đến năm 2015, anh chị mâu thuẫn do anh Sơn có hiện tượng nợ nần do cờ bạc, ngoài ra còn hay uống rượu say dẫn đến vợ chồng thường xuyên xô xát cãi vã. Đầu năm 2018, vợ chồng mâu thuẫn gay gắt nên chị Nga đã đưa con nhỏ Hoàng Ngọc Trâm về sống với nhà bố mẹ đẻ tại thôn 1, xã Đạo Viện, huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang. Từ đó không thấy anh Sơn qua lại thăm nom, nghe nói đi làm ăn xa nhưng không rõ đi đâu, làm gì. Đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nga theo quy định pháp luật. Trần Thanh Nga sau khi đăng ký kết hôn và tổ chức cưới thì về sinh sống tại tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Cách nay 6 -7 năm thì chị Nga không còn ở tổ 6, phường Hưng Thành nữa còn anh Sơn đi làm xa, nhà thường xuyên khóa cửa. Anh chị Sơn – Nga hiện sống ly thân, chị Nga đã đưa con nhỏ của anh chị về ở tại nhà ngoại. Chính quyền tổ 6 có lần có nhận được phong bì của Tòa án gửi cho anh Sơn nhưng cũng không gặp và chuyển được cho anh Sơn. Anh chị Sơn – Nga không vay nợ các tổ chức của tổ dân phố, về vay nợ khác thì địa phương không nắm được. thông báo của Toà án vì vậy không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn. tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Xử: Cho chị Trần Thanh Nga được ly hôn anh Hoàng Văn Sơn. 2. Về con chung: Thanh Nga trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục sau khi ly hôn. Anh Hoàng Văn Sơn không phải cấp dưỡng nuôi con chung (do hiện tại chị Nga không yêu cầu). Anh Hoàng Văn Sơn có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí: nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0000196 ngày 14/01/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Tuyên Quang. Chị Trần Thanh Nga đã nộp đủ án phí của vụ án. Anh Hoàng Văn Sơn không phải nộp án phí. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thuỷ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Thu Thủy Hồi 14h ngày 10 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường Hưng Thành, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Về con chung: Chị Trần Thanh Nga và anh Hoàng Văn Sơn có 01 con chung Về tài sản chung và vay nợ chung: Chị Trần Thanh Nga xác định chị và anh Hoàng Văn Sơn hiện không có tài sản chung và không vay nợ chung nên không đề nghị Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang đã * Kết quả xác minh với gia đình của anh Hoàng Văn Sơn thể hiện: Anh Hoàng * Kết quả xác minh với gia đình của chị Trần Thanh Nga thể hiện: Năm 2009, chị * Kết quả xác minh với chính quyền cơ sở thể hiện: Anh Hoàng Văn Sơn và chị Do anh Hoàng Văn Sơn không có mặt tại các buổi làm việc theo các giấy báo và Đề xuất hướng xét xử vụ án Áp dụng các Điều 28, 35, 147, 166, khoản 2 Điều 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Xử: Giao con chung là Hoàng Ngọc Trâm, sinh ngày 30/11/2009 cho chị Trần Chị Trần Thanh Nga phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm Thẩm phán báo cáo Đào Thị Thu Thuỷ |