- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyen Sy T mua bán ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T 20 (hai mươi) năm tù về tội.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 177/2022/HS-ST Ngày 29/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Cường.
Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Mai Xuân Thường.
Bà Hồ Thị Thanh Thủy.
Ông Võ Duy Bảo.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Kiên, Thư ký, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 176/2022/TLST-HS ngày 05/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 226/2022/QĐXXST-HS ngày 14/11/2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Sỹ T Sinh ngày 16 tháng 12 năm 1972; tại thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: khối V, phường H, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Sỹ K (đã chết); con bà: Nguyễn Thị D (đã chết); mẹ kế Hoàng Thị Tân, sinh năm 1943; Vợ: Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1976, đã ly hôn; Con: Có 02 người con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2004. Tiền án: Ngày 21/8/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 8 tháng tù về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy", Bản án số 378/2020/HSST ngày 21/8/2020 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2021).
Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 06/6/2008 bị Công an phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 150.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 89 ngày 06/6/2008); Ngày 05/6/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 6 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” (Bản án số 285/2009/HSST). Nguyễn Sỹ T kháng cáo. Bản án số 127/2009/HSPT ngày 14/8/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, hủy Bản án số 285/2009/HSST ngày 05/6/2009 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, đình chỉ vụ án, tuyên bố bị cáo Nguyễn Sỹ T không phạm tội theo Nghị quyết số 33/2009/NQ-QH12 của Quốc hội; Ngày 21/3/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 12 tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản” Bản án số 85/2012/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/05/2022 đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn Vũ, Văn phòng luật sư Số 3, Đoàn luật sư tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người có quyền, nghĩa vụ liên quan:
+ Chị Nguyễn Thị TN. Sinh năm: 1997. Địa chỉ: số .., đường T, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
+ Bà Hoàng Thị T. Sinh năm 1943. Địa chỉ: khối V, phường H, thành phố Vinh, Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ 15 phút ngày 03/5/2022, tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An làm nhiệm vụ tại khu vực đường Văn Tân thuộc khối Văn Trung, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát hiện Nguyễn Sỹ T đang điều khiển xe đạp màu hồng, trước giỏ xe có 01 bao ni lông màu đen có biểu hiện mua bán trái phép chất ma túy, nên tổ công tác tiến hành kiểm tra thì T thả xe đạp xuống đất rồi bỏ chạy, T chạy được khoảng 20 mét thì bị bắt giữ. Thu giữ trong giỏ xe đạp của T 01 (một) bao potylen màu đen, bên trong có 01 (một) gói được quấn bên ngoài bằng băng dính màu trắng, tiếp theo là lớp giấy thiếc màu bạc, trong lớp giấy bạc có 20 (hai mươi) gói potylen màu trắng, trong mỗi gói potylen đều chứa các viên nén màu cam hình dạng không xác định (nghi là ma túy); 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xám, xung quanh máy có viền đen, gắn sim số 0914.561.717 và 01 (một) chiếc xe đạp màu hồng có giỏ phía trước.
Quá trình điều tra, Nguyễn Sỹ T khai nhận: Vào khoảng cuối tháng 4 năm 2022, Nguyễn Sỹ T đi uống nước mía tại quảng trường Hồ Chí Minh ở phường Trường Thi, thành phố Vinh thì T gặp và làm quen với người đàn ông tên Hùng (không rõ lai lịch, địa chỉ). Sau vài lần cùng nhau uống nước, nói chuyện, Hùng nhờ T bán hộ 1.000 (một nghìn) viên ma túy dạng thuốc lắc với giá 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng). T nói với Hùng là chưa có khách mua thì Hùng nói cứ để ma túy ở nhà T, nếu có khách mua thì bán, còn không thì vài hôm nữa Hùng sẽ đến lấy ma túy. T đồng ý và cho Hùng địa chỉ nhà T ở khối Văn Trung, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh. Đến khoảng 15 giờ ngày 03/5/2022, Hùng đi xe mô tô nhãn hiệu Wave anpha, màu trắng (T không nhớ biển số) đến ngõ số 2 trước nhà T. T đi xe đạp màu hồng có giỏ phía trước ra gặp Hùng. Lúc này, Hùng chỉ cho T thấy 01 (một) bao potylen màu đen, bên trong chứa 1000 (một nghìn) viên ma túy dạng thuốc lắc đang để ở bãi đất trống trước ngõ số 2 rồi Hùng quay xe mô tô đi về. T làm theo sự chỉ dẫn của Hùng, điều khiển xe đạp đi lại lấy bao potylen màu đen có chứa ma túy dạng thuốc lắc bỏ vào trong giỏ đựng đồ phía trước của xe đạp rồi điều khiển xe đạp đi ra khu vực đường Văn Tân thuộc khối Văn Trung, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh thì bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An phát hiện, bắt quả tang cùng với vật chứng như đã nêu trên.
Kết luận giám định số 586/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 11/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: “20 (hai mươi) mẫu các viên nén màu da cam, hình dạng không xác định (ký hiệu M1 đến M20) thu giữ của Nguyễn Sỹ T gửi tới giám định đều là ma túy (MDMA). Các viên nén màu da cam, hình dạng không xác định (có trong 20 gói) thu giữ của Nguyễn Sỹ T có tổng khối lượng là 454,735 g (bốn trăm năm mươi bốn phẩy bảy trăm ba mươi lăm gam)”.
Cáo trạng số 199/CT-VKSNA-P1 ngày 29/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố Nguyễn Sỹ T về: "Tội mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố. Bị cáo khai nhận, nhận lời bán ma túy của Hùng đưa cho với mục đích để lấy tiền công, nhưng chưa thỏa thuận cụ thể số tiền công là bao nhiêu. Đối với chiếc điện thoại bị thu giữ, bị cáo khai là của con gái cho mượn, đề nghị trả lại cho con gái, còn chiếc xe đạp, bị cáo khai là lấy xe đạp của bà Hoàng Thị Tân (mẹ kế ở trong nhà), khi đi cũng không hỏi mượn bà Tân. Chị Nguyễn Thị Tú Ngọc khai, ciếc điện thoại là do chị mua cho bố (bị cáo T) dùng, do bố không có điện thoại, đề nghị trả lại cho chị. Bà Hoàng Thị Tân khai rằng, chiếc xe đạp là của bà dùng để đi lại, để trong nhà, khi bị cáo lấy đi bà không biết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên cáo trạng và phát biểu quan điểm: Việc truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo mức án 20 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; tịch thu tiêu hủy số ma túy là vật chứng của vụ án; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại và trả lại cho bà Hoàng Thị Tân chiếc xe đạp.
Người bào chữa cho bị cáo không tranh luận về tội danh. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị trả lại chiếc điện thoại cho chị Nguyễn Thị Tú Ngọc và trả lại chiếc xe đạp cho bà Hoàng Thị Tân.
Nói lời sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo.
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo và kết quả tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Do hám lợi, Nguyễn Sỹ T đã nhận ma túy của người khác để bán nhận tiền công. Vào khoảng 15 giờ ngày 03/5/2022, tại khu vực bãi đất trống ở trước ngõ số 2 thuộc khối Văn Trung, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Sỹ T đã nhận 20 (hai mươi) gói ma túy (MDMA) khối lượng 454,735 g (bốn trăm năm mươi bốn phẩy bảy trăm ba mươi lăm gam) của một người đàn ông tên Hùng để bán với giá 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng), khi Nguyễn Sỹ T đi đến khu vực đường Văn Tân thuộc khối Văn Trung, phường Hưng Dũng, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An thì bị Công an thành phố Vinh phát hiện bắt quả tang. Hành vi nhận ma túy của người khác để đi bán ma túy nhằm mục đích lấy tiền công là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Khối lượng ma túy bị cáo mua bán là 454,735 gam ma túy (MDMA), Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo về "Tội mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; tính chất hành vi phạm tội:
Tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sỹ T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bố bị cáo là ông Nguyễn Sỹ Khương có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Ngày 21/8/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, xử phạt 8 tháng tù về "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy", tại Bản án số 378/2020/HSST ngày 21/8/2020. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 10/02/2021. Đến ngày 03/5/2022, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, do đó lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy. Trong tình hình hiện nay ma túy là hiểm họa của T nhân loại, làm suy thoái giống nòi, suy đồi đạo đức, là nguyên nhân phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là bị pháp luật nghiêm cấm và xử lý nghiêm nhưng vì vụ lợi nên vẫn thực hiện; khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi mua bán là tương đối lớn, nếu không bị phát hiện, ngăn chặn kịp thời sẽ gây ra nhiều hậu quả xấu cho xã hội. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe tội phạm và phòng ngừa chung trong xã hội. Khung hình phạt theo quy định tại khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là phạt tù 20 năm, tù chung thân, đến tử hình, xét các tình tiết vụ án, xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.
Hành vi, quyết định tố tụng: trong quá trình điều tra, truy tố, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cc quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng vụ án: Ma túy là vật Nhà nước cấm lưu hành, phải tịch thu tiêu hủy. Chiếc điện thoại của bị cáo không sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên trả lại cho bị cáo. Chiếc xe đạp của bà Hoàng Thị Tân bị cáo dùng để đi lấy ma túy, nhưng do bà Tân không biết nên trả lại cho bà Hoàng Thị Tân.
Hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Sỹ T 20 (hai mươi) năm tù về tội. “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/05/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
[2] Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 409,735 gam ma túy (MDMA) là vật chứng ma túy của vụ án còn lại sau khi giám định.
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Sỹ T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 pro max; Trả lại cho bà Hoàng Thị Tân 01 xe đạp màu hồng.
Đặc điểm các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/10/2022, giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nghệ An và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
[3] Án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Sỹ T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Sỹ T, chị Nguyễn Thị TN, bà Hoàng Thị T được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND Cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An - Cục T.H.A dân sự tỉnh Nghệ An; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Lưu HSVA. THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Quốc Cường |