vanban.org

Bản án 177/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị H với ông Mai Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Mai Thanh H, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2011 (Giới tính Nam) cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, Tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị H với ông Mai Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 177/2022/HNGĐ-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2022
“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Bà Phạm Hồng Ân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 226/2022/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 431/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2022, quyết định hoãn phiên tòa số 106/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 9 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị H; Sinh năm 1986 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp TN, xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Mai Văn T; Sinh năm 1988 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp TN, xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 26 tháng 5 năm 2022 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trần Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà Trần Thị H và ông Mai Văn T kết hôn năm 2010, đến ngày 19/3/2018 bà và ông Mai Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2018). Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến tháng 4 năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng, bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mai Văn T.

Về con chung: Quá trình sống chung bà và ông Mai Văn T có 01 người con tên Mai Thanh H, sinh ngày 18/3/2011, giới tính nam. Khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông Mai Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Mai Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Trần Thị H sống chung với nhau như vợ chồng vào năm 2010, đến ngày 19/3/2018 bà và ông Mai Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau. Quá trình sống chung với nhau vợ chồng có nhiều mâu thuẫn như bà Trần Thị H trình bày là đúng. Nay ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị H.

Về con chung: Có 01 người con tên Mai Thanh H, sinh ngày 18/3/2011, giới tính nam, khi ly hôn nếu con ở với ai thì người đó nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H được ly hôn với ông Mai Văn T; Về con chung: Giao con chung con tên Mai Thanh H, sinh ngày 18/3/2011, giới tính nam cho bà Trần Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Mai Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Trần Thị H với ông Mai Văn T được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Mai Văn T là bị đơn có nơi cư trú tại xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về hôn nhân: Bà Trần Thị H với ông Mai Văn T sống chung với nhau như vợ chồng năm 2010, ngày 19/3/2018 bà và ông Mai Văn T đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã RC, huyện PT, tỉnh Cà Mau (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 19/2018) do đó hôn nhân của bà Trần Thị H với ông Mai Văn T là hợp pháp. Tại đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 26 tháng 5 năm 2022 và tại phiên tòa bà Trần Thị H trình bày: Đời sống chung vợ chồng của bà với ông Mai Văn T có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, do đó bà yêu cầu ly hôn với ông Mai Văn T. Tại phiên tòa ông Mai Văn T cho rằng cuộc sống hôn nhân của ông với bà Trần Thị H có nhiều mâu thuẫn, ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị H. Hội đồng xét xử nhận thấy, hôn nhân giữa bà Trần Thị H với ông Mai Văn T đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Trần Thị H được ly hôn với ông Mai Văn T.

[3] Về con chung: Bà Trần Thị H và ông Mai Văn T có 01 người con tên Mai Thanh H, sinh ngày 18/3/2011, giới tính nam. Khi ly hôn, bà Trần Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông Mai Văn T cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa ông Mai Văn T cho rằng khi ly hôn con chung có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa bà Trần Thị H cho rằng, từ khi ly thân đến nay, cháu Mai Thanh H do bà nuôi dưỡng. Tại bản tự khai ngày 26/5/2022, biên bản ghi lời khai ngày 08/9/2022 cháu Mai Thanh H có nguyện vọng sống chung với mẹ là bà Trần Thị H. Để ổn định về mặt tâm lý, cũng không làm xáo trộn đời sống của cháu Mai Thanh H, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị H về yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Mai Thanh H.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà Trần Thị H thay đổi yêu cầu không yêu cầu ông Mai Văn T cấp dưỡng nuôi con. Việc thay đổi yêu cầu dưỡng nuôi con của bà Trần Thị H là hoàn toàn tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Trần Thị H phải chịu là 300.000 đồng. Bà Trần Thị H đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng được đối trừ, chuyển thu khi bản án có hiệu lực.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 207, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trần Thị H với ông Mai Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Mai Thanh H, sinh ngày 18 tháng 3 năm 2011 (Giới tính Nam) cho bà Trần Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ông Mai Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Án phí:

- Án phí sơ thẩm hôn nhân gia đình: Bà Trần Thị H phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 05/7/2022, bà Trần Thị H đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0018057 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

Bà Trần Thị H, ông Mai Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ