vanban.org

Bản án 177/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 06/05/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố TN để xét xử bị can

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều Kèm theo Cáo trạng có: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố TN để xét xử bị can
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 236 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN
Bản án số:177/2019 /HSST
Ngày: 06/ 5 /2019

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH TN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lê Văn Ninh

2.Ông Trần Quảng Thái

-Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Kao Hoàng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TN.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2019, tại hội trường Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 217/2019/HSST, ngày 11 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2019/QĐXXST-HS ngày 06/ 5 /2019 đối với bị cáo:

Đinh Văn T, Sinh ngày 02/10/1993; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm N, xã B, huyện M, tỉnh BK; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Đinh Văn T, sinh năm 1969 và con bà: Chu Thị C, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1994 ( đã ly hôn); Con: Có 01 con sinh năm 2013;

Tiền án; Tiền sự : Không

Bị bắt tạm giữ, tạm giam

Trại giam Công an tỉnh TN từ ngày 29/6/2017).

( Có mặt tại phiên tòa).

Ngƣời chứng kiến:Ông Đào Nguyên H, sinh năm 1947

( Vắng mặt tại phiên tòa)

HKTT: Tổ X, phường Q, thành phố TN, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ ngày 29/6/2017, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ X, phường Q, thành phố TN

: Tại nhà nghỉ H

Tổ X, phường Q, thành phố TN do ông Đào Nguyên H (sinh nă

HK có 01 nam thanh niên, người này tự khai tên là: Hoàng Doãn Đ

,

B

M, tỉnh BK

302 nhà nghỉ H

ười phạm tội quả tang đ

và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định trọng lư D

: 0,247 gam.

số 818 ngày 05/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của

: 0,247 gam.

Ngày 15/9/2017 Tòa án nhân dân thành phố TN đã xét xử sơ thẩm đối với Hoàng Doãn Đ về tội “ Tàng Trữ trái phép ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 và áp dụng theo hướng có lợi cho bị Cáo nên Hội đồng xét xử đã áp dụng khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 xử phạt bị cáo Hoàng Doãn Đ 24 tháng tù giam.

Ngày 10/10/2018 Viện kiểm sát nhân dân Cấp Cao tại Hà Nội đã có quyết định kháng nghị tái thẩm đối với bản án hình sự sơ thẩm số 343/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN với lý do trên cơ sở xác minh xác định bị cáo Hoàng Doãn Đ tên thật là Đinh Văn T, sinh năm 1993, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Xóm N, xã B, huyện M, tỉnh BK.

Tại Quyết định số 173/2018/HS-TT ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử Tái thẩm Quyết định: Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 343/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh TN; Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội để điều tra lại theo thủ tục chung.

TN

N,

B

M, tỉnh BK.

Tại cơ quan đ

H Khôi thuộc Tổ X, phường Q, thành phố TN nơ

đ

TN Tổ X, phường Q, thành phố TN

01 người đàn ông tên T2

01 mảnh ni lông màu xanh bọc gói Heroine vừa mua được r

HK

trên. Do T

–

nên T

, T

.

Tại bản cáo trạng số 217/CT-VKSTPTN ngày 09/4/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo Đinh Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c, khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kết thúc phần xét hỏi, Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng : Điểm c, khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS 2015 xử phạt: bị cáo Đinh Văn T 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

- Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 xử lý vật chứng theo quy định.

- Áp dụng Điều 136 BLTTHS 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14

ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải nộp án phí HSST vào ngân sách nhà nước.

Trong phần tranh luận bị cáo T không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo T nói lời sau cùng xin được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an, cơ quan Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên thành phố TN trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đinh Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. Với chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở kết luận:

10 giờ ngày 29/6/2017, tại khu vực 17, phường Q, thành phố TN, Đinh Văn T đang tàng trữ 0,247 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Đinh Văn T đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma

túy, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm

2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và hình phạt viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Điều 249 BLHS quy định:

““1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy ...thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Xét tính chất mức độ của hành vi phạm tội là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma túy hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh tội phạm và các tệ nạn xã hội khác, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước.Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đinh Văn T có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 BLHS. Xét tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của và nhân thân của bị cáo cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng, cách ly xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt và có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 BLHS, nhưng xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không nghề nghiệp, mua ma túy về sử dụng không mang tính chất vụ lợi. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Đ 1 ( không kiểm tra bên trong, theo biên bản giao nhận vật chứng số 356 ngày 07/8/2017).

Án phí; Quyền kháng cáo: Bị cáo Đinh Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, theo Đinh Văn T

2. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015; Điều 329 BLTTHS năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn T 24 ( hai mươi bốn) tháng tù giam. Thời hạn tù được tính từ bắt tạm giữ, tạm giam 29/6/2017.

Quyết định tạm giam bị cáo Đinh Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015 :

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong ký hiệu Đ 1 ( không kiểm tra bên trong) (Vật chứng hiện đang lưu giữ bảo quản tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng số 356 ngày 07/8/2017).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016, buộc bị cáo Đinh Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh TN;

- VKSND tỉnh

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND TP TN;

- CCTHADS TP TN;

- Công an TP TN;

- Sở tƣ pháp;

- Bị cáo;

- Hồ sơ vụ án;

- Lƣu.

Hoàng Thị Huyền

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Huyền Nơi nhận:

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh TN;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh

- VKSND TP TN;

- CCTHADS TP TN;

- Công an TP TN;

- Sở tư pháp;

- Bị cáo;

- Hồ sơ vụ án;

Hoàng Thị Huyền

- Lưu.

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Huyền Nơi nhận:

TM . HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh TN;

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

- VKSND tỉnh

- VKSND TP TN;

- CCTHADS TP TN;

- Công an TP TN;

- Sở tư pháp;

- Bị cáo;

- Hồ sơ vụ án;

Hoàng Thị Huyền

- Lưu. VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TN

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN

TN, ngày tháng 4 năm 2019

Số: /CT-VKSTPTN

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƢỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN

Căn cứ các điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định

khởi tố vụ án hình sự số 01A ngày 31 tháng 01 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN;

Căn cứ Quyết định

khởi tố bị can số 01 ngày 31 tháng 01 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN;

Căn cứ Bản kết luận điều tra số 268 ngày 25 tháng 3 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN.

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định đƣợc nhƣ sau:

Hồi 10 giờ ngày 29/6/2017, tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực Tổ X, phường Q, thành phố TN thì nhận được tin báo của quần chúng nhân dân

: Tại nhà nghỉ H Khôi

Tổ X, phường Q, thành phố TN do ông Đào Nguyên H (sinh năm 1947

có các đối tượng

liên quan đến ma túy. Tổ công tác

đến kiểm tra, phát hiện tại phòng 302 nhà nghỉ H Khôi có 01 nam thanh niên, người này tự khai tên là: Hoàng Doãn Đ

.

tự giác

trên mặt bàn của phòng 302 nhà nghỉ H Khôi

01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng

. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với

và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định (BL 29 - 32).

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành mở niêm phong, cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của

: 0,247 gam (BL 33).

Tại

Kết luận giám định số 818 ngày 05/7/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của

là chất ma túy, loại Hêrôin

: 0,247 gam (BL 26).

.

Tại cơ quan điều tra

khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 29/6/2017,

đi

từ nhà nghỉ H Khôi thuộc Tổ X, phường Q, thành phố TN nơi

đang thuê trọ khu vực dốc Bến xe khách TN (cũ) mục đích mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi

đến trước cửa nhà nghỉ Xuân Minh thuộc Tổ X, phường Q, thành phố TN thì

gặp và mua của 01 người đàn ông tên Trường (không rõ nhân thân, lai lịch) 100.000 đ

gói bằng giấy bạc màu vàng

01 mảnh ni lông màu xanh bọc gói Heroine vừa mua được rồi mang về phòng 302

nhà nghỉ H Khôi

. Nhưng Th chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang

–

.

Lời kha

phù hợp v

, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án (BL 34 – 146).

Vật chứng

vụ án :

- 01 bì niêm phong ký hiệu Đ1.

TN xử lý.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên.

KẾT LUẬN

10 giờ ngày 29/6/2017, tại khu vực 17, phường Q, thành phố TN

đang tàng trữ 0,247 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

, sinh

02/10/1993.

- Tên gọi khác: Khô

: Nam.

-

:

.

- Quốc tịch: Việt Nam Dân tộc:

: Không

-

: 9/12 Nghề nghiệp: Không.

-

): Không.

- Con ông: Đinh Văn Tuân, sinh năm 1969.

- Con bà:

, sinh năm 1969.

-

.

-

01 con, sinh năm 2013.

-

: Không.

Hiện bị can đang bị tạm

TN (bị tạm giam từ ngày 31/01/2019 đến nay).

Hành vi nêu trên của

đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự nă

2015).

Nội dung điều luật nhƣ sau:

“1. Người nào tàng trữ ... trái phép ... chất ma túy, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

Căn cứ khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Điều luật ... quy định một hình phạt nhẹ hơn ... và quy định khác có lợi cho người phạm tội, thì được áp dụng đối với hành vi phạm tội đã thực hiện trước khi điều luật có hiệu lực thi hành”.

Như vậy, tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 tương ứng với quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại

khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy

, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c, Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ”

Về khung hình phạt đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt cao nhất là 05 năm tù, nhẹ hơn khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 cao nhất là 07 năm tù. Vì vậy, qua việc phân tích và so sánh như trên,

áp dụng hình phạt đối với bị can

theo nguyên tắc có lợi cho bị can.

Trong vụ án này, bị can được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, theo

khai đã mua

. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra làm rõ để xử lý.

QUYẾT ĐỊNH

1. Truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố TN để xét xử bị can

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều

2015).

2. Kèm theo Cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, bằng………tờ; đánh số thứ tự từ 01 đến……..

- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên tòa.

Cỡ chữ