- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang P - Vi phạm về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Quang P phạm tội “Vi phạm về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự Xử phạt; Điều 65 Bộ luật hình sự Xử phạt; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 177/2018/HS-ST Ngày 12/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ H – TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Gia Ninh
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Phạm Văn Hiều và bà Hồ Thị Lan
- Thư ký phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Như Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố H
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quang Sơn- Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 167/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 171/2018/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2018 đốivới bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang P; tên gọi khác: không; sinh ngày 30 tháng 4 năm 1974 tại thị xã C,tỉnh A; nơi cư trú: khu dân cư M, phường B, thị xã C, tỉnh A; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc B, đã chết và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1942; vợ: Trần Thị H, sinh năm: 1975; con: có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; tiền án: chưa; tiền sự: Ngày 19/5/2017, bị Công an thị xã C, tỉnh A xử phạt 1.500.000 đồng vì hành vi đánh bạc; ngày 24/5/2017 Trần Quang P đã nộp tiền. Bị cáo hiện đang bị cáo áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Đức K; sinh năm: 1993;
Trú tại: Tổ 30, khu 5, phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
+ Dương Thị C; sinh năm: 1961;
Trú tại: Tổ 30, khu 5, phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
+ Nguyễn Đức L; sinh năm: 1995;
Trú tại: Tổ 30, khu 5, phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa có giấy ủy quyền cho bà Dương Thị C làm đại diện.
+ Nguyễn Đức T; sinh năm: 1989;
Trú tại: Tổ 30, khu 5, phường X, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt tại phiên tòa có giấy ủy quyền cho bà Dương Thị C làm đại diện.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm: 1985; Trú tại: thôn Y, xã G, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 23/4/2018, Trần Quang P (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS) 34C – 156.81 trên đường 337 theo hướng từ ngã tư Loong Toòng đi cầu Bang khi đến đoạn thuộc tổ 19C, khu 3, phường X, thành phố H, P đỗ xe sát mép đường bên phải để vào ăn cơm. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, sau khi ăn cơm xong P bật xi nhan bên trái, điều khiển xe đánh lái về phía bên trái để chuyển làn đường đi về phía cầu Bang. Cùng lúc đó anh Nguyễn Đức K điều khiển xe mô tô BKS 14B1 – 017.98 đi từ hướng phường C về hướng phường X đã đâm vào cánh cửa bên trái xe ô tô do P điều khiển đang chuyển làn gây tai nạn. Hậu quả: Anh K bị thương, xe mô tô và xe ô tô bị hư hỏng nhẹ.
Khám nghiệm hiện trường: Đường hai chiều, giữa đường có vạch sơn đôi mầu vàng song song kẻ liền phân chia thành hai chiều đường riêng biệt, phía trước xẩy ra tai nạn về phía Ngã tư Loong Toòng đường cong vòng từ phải sang trái theo hướng từ Cầu Bang về ngã tư Loong Toòng. Tai nạn xẩy ra trên đường ngã tư Loong Toòng đi cầu Bang, rộng 8,3m có vạch sơn phân chia thành 03 làn đường. Các số đo được đo từ vị trí đến mép đường bên phải theo hướng ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang. Trên mặt đường có một vết phanh đơn (kí hiệu 01) dài 3,8m, rộng nhát 0,05m, có hướng từ ngã tư Loong Toòng về cầu Bang, từ đầu điểm đầu vết 1 đo đến mép đườn là 3,95m, điểm cuối đo đến mép đường là 4,05m. Một vết trượt miết mầu đen (kí hiệu 02) dài 1,05m, rộng nhất 0,12m, có hướng từ ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang, từ điểm đầu và cuối vết 02 đo đến mép đường lần lượt là 4,1m và 4,4m, từ điểm đầu vết 02 đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đầu vết 01 là 4,15m. Một vết xước (kí hiệu 03) dài 1,1m, rộng 0,4m có hướng từ ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang, từ điểm đầu vết 03 đo đến mép đường là 05m, đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đầu vết 02 là 1,55m, điểm cuối vết 03 trùng với vị trí xe mô tô 14B1 – 017.98 nằm đổ nghiêng bên trái tỳ nên mặt đường. Xe mô tô 14B1 – 017.98 nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng mép đường, đuôi xe quay ra tim đường, từ trục bánh trước và sau đo đến mép đường lần lượt là 4,7m và 06m, từ trục bánh sau xe mô tô 14B1 – 017.98 đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đến vết 01 là 6,35m. Xe ô tô 34C – 156.81 đỗ đầu xe quay hướng đi cầu Bang chếch sang trái, tứ má ngoài bánh trước và sau bên phải đo đến mép đường lần lượt là 2,15m và 0,65m, từ trục bánh trước bên trái xe ô tô 34C – 156.81 đo đến trục bánh trước xe mô tô 14B1 – 017.98 là 2,45m. Trên mặt đường có đám mảnh kính vỡ (kí hiệu 06) trên diện 0,45x0,15m, từ tâm đám kính đo đến mép đường là 2,8m, đo đến trục bánh trước bên trái xe ô tô 34C – 156.81 là 2,8m. Trên mặt đường có đám máu nhỏ rọt (kí hiệu 7) trên diện 0,45mx0,15m, từ tâm đám máu đo đến mép đường là 5,9m, đo đến trục bánh sau xe mô tô 14B1 – 017.98 là 2,8m. (bút lục từ số: 13,14).
Khám xe mô tô 14B1 - 017.98: Gương chiếu hậu bên phải không có, gương chiếu hậu bên trái vỡ mặt kính gương, tay gương cong lệnh từ trái sang phải, mặt gương tỳ xước kim loại dính chất bột mầu trắng trên diện (7x1)cm, hướng từ trước về sau; Phía bên phải mặt lăn bánh trước và má lốp bên phải bánh trước liền kề có đám mài xước cao su kích thước (17x4)cm, hướng ngược chiều kim đồng hồ; Mặt ngoài phần phía dưới càng giảm sóc trước bên phải có vết tỳ xước kim loại dính chất mầu đen kích thước (4,3x3)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 23,5cm; hai càng giảm sóc trước bị cong chùn hướng từ trước về sau; Phần phía trước chắn bùn bánh trước và cạnh bên phải chắn bùn trước bánh trước có đám vết tỳ xước nhựa kích thước (33x6)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 58,5cm; phần phía dưới cánh yếm bên phải có vết nứt vỡ nhựa đã cũ, mặt ngoài cánh yếm bên ngoài có vết tỳ chùi mất bụi kích thước (44x9)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 23cm; ốp nhựa phía ngoài lốc máy bên phải vỡ rời khỏi vị trí mặt ngoài, lốc máy bên phải có vết tỳ chùi mất bụi trên diện (4x4,5)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 27cm; càng chân phanh cong gập hướng từ trước về sau; giá để chân trước bên phải bị cong gập hướng từ trước về sau, tỳ sát vào cần khởi động, đầu ngoài phía dưới bị rách đệm cao su kích thước (4x2,5)cm; cách yếm bên trái vị vỡ mất mảnh nhựa kích thước (20,5x5)cm; giá để chân trước bên trái bị cong gập hướng từ sau về trước, từ dưới lên trên, đầu giá để chân bị mài xước dính chất bột mầu trắng; giá để chân sau bên trái bật rời khỏi vị trí, cạnh ngoài khung kim loại bắt giá để chân sau, bên phải có vết mài xước kim loại dính chất bột mầu trắng kích thước (3x3,5)cm; trên phía sau yên xe có lắp giá để hàng bằng gỗ kích thước (63x36x14,5)cm. (bút lục từ số: 15, 16).
Khám xe ô tô BKS 34C – 156.81: Đầu cùng bên trái Ba đờ sốc trước có vết tỳ xước nhựa rải rác dính chất mầu đen, đỏ trên diện (17x10)cm hướng từ sau về trước, đầu bên trái ba đờ sốc bật chốt liên kết. Ốp nhựa bên trái bậc lên xuống ca bin bị vỡ mất mảnh nhựa kích thước (26x8)cm, mặt ngoài đám nhựa có đám vết tỳ xước rải rác dính chất mầu đen, đỏ kích thước 25x8,5cm, thấp nhất cách đất 45cm, hướng từ sau về trước. Cạnh ngoài bậc lên xuống bên trái ca bin có vết tỳ xước kim loại rải rác dính chất mầu đỏ, chất màng mầu đen trên diện (21x2,5)cm, hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 52cm. Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, chân gương bị xô lệch hướng từ sau về trước. Mặt ngoài cánh cửa bên tái cabin, có vết tỳ xước sơn, lõm kim loại trên diện (99x12,5)cm, hướng từ sau về trước, thấp nhất cách đất 86cm, rải rác dính chất mầu hồng. Mặt ngoài khung xe tại vị trí phía dưới cánh cửa bên trái ca bin có vết tỳ xước kim loại kích thước (23x2)cm hướng từ sau về trước, thấp nhất cách đất 88cm. Mặt ngoài cánh cửa bên trái cabin có vết tỳ xước sơn rải rác dính chất mầu hồng kích thước (27x1)cm, hướng từ sau về trước thấp nhất cách đất 114,5cm. Má ngoài lốp bánh trước bên trái có vết mài xước cao su trên diện (20x17)cm, hướng cùng chiều kim đồng hồ, chếch từ tâm ra ngoài, gần nhất cách mặt lăn. Mặt ngoài la răng bánh trước bên trái và đầu bu rông siết đầu trục bên trái có đám tỳ xước kim loại dính chất màng mầu đen trên diện (15x4)cm. Trên cạnh bu rông bị tỳ xước có dính chất màng mầu ghi, tại điểm đầu vết này trên mặt ngoài la răng có đám vết máu bắn tóe trên diện (6x4,5)cm hướng từ tâm ra ngoài. (bút lục từ số: 17,18).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 247/18/TgT ngày 04/6/2018 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Quảng Ninh kết luận tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức K do thương tích gây nên hiện tại là: 91% (chín mươi mốt phần trăm). Hiện tại hôn mê, Glasgow 07 điểm, tiên lượng để lại di chứng về thần kinh mức độ nặng, có thể tử vong. (bút lục từ số: 38 đến 41).
Quá trình điều tra bị cáo Trần Quang P khai: bật xi nhan trái quan sát gương chiếu hậu không thấy có người từ từ đánh lái sang trái đi từ rìa đường vào tâm đường, khi đầu xe chuẩn bị chạm vạch sơn ngắt quãng phần làn đường, đã ngoái đầu nhìn về phía C thì nhìn thấy một người điều khiển xe mô tô cách cabin khoảng 1 đến 2m đã đạp phanh cho xe dừng lại thì ngay lúc đó xe mô tô đâm vào góc bên trái của cabin làm người đó bị thương, đã đưa người đó đi cấp cứu.(bút lục từ số: 57, 58).
Bản cáo trạng số 170/CT- VKSHL ngày 06/8/2018 của Viện kiểm sát thành phố H truy tố bị cáo Trần Quang P về tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ‟‟ theo điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Quang P về tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ‟‟ theo điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự và đề nghị :
Áp dụng: điểm b, khoản 1 Điều 260, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1,2 điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Trần Quang P từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/6/2018, bị cáo Trần Văn P cùng anh Nguyễn Văn K1 đại diện chủ xe đã bồi thường cho đại diện gia đình Nguyễn Đức K số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), đại diện gia đình anh K có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P (bút lục từ 81 đến 83).
Về xử lý vật chứng: Ngày 01 và 12/6/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả xe ô tô BKS 34C – 156.81 cho anh Nguyễn Văn K, trả xe mô tô BKS 14B1 – 017.98 cho bà Dương Thị C. (bút lục 95,96) nên không đề cập. Trả bị cáo giấy phép lái xe.
Tại phiên toà bị cáo Trần Quang P khai nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo
Tại phiên toà đại diện bị hại có ý kiến: đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cho bị cáo hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của bị cáo Trần Quang P phù hợp với nội dung bản cáo trang đã quy kết thể hiện: Khoảng 12 giờ 10 phút ngày 23/4/2018, Bị cáo điều khiển xe ô tô BKS 34C- 156.81 do chuyển làn đường không đảm bảo an toàn làm anh Nguyễn Đức K điều khiển xe mô tô BKS 14B- 017.98 đi phía sau cùng chiều đâm vào gây tai nạn làm anh K bị tổn hại 91% sức khỏe.
Người làm chứng Hà Thị D có lời khai: khoảng 12 giờ ngày 23/4/2018, chị nhìn thấy xe ô tô màu trắng BKS 34C - 156.81 bật xi nhan bên trái, rẽ trái đi từ mép đường bên phải đường 337 theo hướng đi Cầu Bang ra đường 337 với tốc độ châm, cùng lúc này phía sau có một xe mô tô BKS 14B- 017.98 do một nam thanh niên điều khiển đi với tốc độ khá nhanh ở khu vực giữa đường trên phần đường hướng đi từ cầu K67 về cầu Bang, chở sau xe một bình ga tay trái cầm điện thoại, tay phải lái xe. Khi xe ô tô chuyển hướng rẽ trái, đầu xe ô tô ra gần đến khu vực giữa đường trên phần đường nam thanh niên điều khiển va chạm vào phía bên trái cabin xe ô tô màu trắng còn người thanh niên đầu đập vào gương chiếu hậu bên trái của xe ô tô, sau đó xe mô tô và người thanh niên văng ra đường trước đầu xe ô tô.
Khám nghiệm hiện trường: Đường hai chiều, giữa đường có vạch sơn đôi mầu vàng song song kẻ liền phân chia thành hai chiều đường riêng biệt, phía trước xẩy ra tai nạn về phía Ngã tư Loong Toòng đường cong vòng từ phải sang trái theo hướng từ Cầu Bang về ngã tư Loong Toòng. Tai nạn xẩy ra trên đường ngã tư Loong Toòng đi cầu Bang, rộng 8,3m có vạch sơn phân chia thành 03 làn đường. Các số đo được đo từ vị trí đến mép đường bên phải theo hướng ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang. Trên mặt đường có một vết phanh đơn (kí hiệu 01) dài 3,8m, rộng nhát 0,05m, có hướng từ ngã tư Loong Toòng về cầu Bang, từ đầu điểm đầu vết 1 đo đến mép đườn là 3,95m, điểm cuối đo đến mép đường là 4,05m. Một vết trượt miết mầu đen (kí hiệu 02) dài 1,05m, rộng nhất 0,12m, có hướng từ ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang, từ điểm đầu và cuối vết 02 đo đến mép đường lần lượt là 4,1m và 4,4m, từ điểm đầu vết 02 đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đầu vết 01 là 4,15m. Một vết xước (kí hiệu 03) dài 1,1m, rộng 0,4m có hướng từ ngã tư Loong Toòng đi Cầu Bang, từ điểm đầu vết 03 đo đến mép đường là 05m, đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đầu vết 02 là 1,55m, điểm cuối vết 03 trùng với vị trí xe mô tô 14B1 – 017.98 nằm đổ nghiêng bên trái tỳ nên mặt đường. Xe mô tô 14B1 – 017.98 nằm đổ nghiêng bên trái, đầu xe quay hướng mép đường, đuôi xe quay ra tim đường, từ trục bánh trước và sau đo đến mép đường lần lượt là 4,7m và 06m, từ trục bánh sau xe mô tô 14B1 – 017.98 đo về phía ngã tư Loong Toòng đến đến vết 01 là 6,35m. Xe ô tô 34C – 156.81 đỗ đầu xe quay hướng đi cầu Bang chếch sang trái, tứ má ngoài bánh trước và sau bên phải đo đến mép đường lần lượt là 2,15m và 0,65m, từ trục bánh trước bên trái xe ô tô 34C – 156.81 đo đến trục bánh trước xe mô tô 14B1 – 017.98 là 2,45m. Trên mặt đường có đám mảnh kính vỡ (kí hiệu 06) trên diện 0,45x0,15m, từ tâm đám kính đo đến mép đường là 2,8m, đo đến trục bánh trước bên trái xe ô tô 34C – 156.81 là 2,8m. Trên mặt đường có đám máu nhỏ rọt (kí hiệu 7) trên diện 0,45mx0,15m, từ tâm đám máu đo đến mép đường là 5,9m, đo đến trục bánh sau xe mô tô 14B1 – 017.98 là 2,8m. (bút lục từ số: 13,14).
Khám xe mô tô 14B1 - 017.98: Gương chiếu hậu bên phải không có, gương chiếu hậu bên trái vỡ mặt kính gương, tay gương cong lệnh từ trái sang phải, mặt gương tỳ xước kim loại dính chất bột mầu trắng trên diện (7x1)cm, hướng từ trước về sau; Phía bên phải mặt lăn bánh trước và má lốp bên phải bánh trước liền kề có đám mài xước cao su kích thước (17x4)cm, hướng ngược chiều kim đồng hồ; Mặt ngoài phần phía dưới càng giảm sóc trước bên phải có vết tỳ xước kim loại dính chất mầu đen kích thước (4,3x3)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 23,5cm; hai càng giảm sóc trước bị cong chùn hướng từ trước về sau; Phần phía trước chắn bùn bánh trước và cạnh bên phải chắn bùn trước bánh trước có đám vết tỳ xước nhựa kích thước (33x6)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 58,5cm; phần phía dưới cánh yếm bên phải có vết nứt vỡ nhựa đã cũ, mặt ngoài cánh yếm bên ngoài có vết tỳ chùi mất bụi kích thước (44x9)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 23cm; ốp nhựa phía ngoài lốc máy bên phải vỡ rời khỏi vị trí mặt ngoài, lốc máy bên phải có vết tỳ chùi mất bụi trên diện (4x4,5)cm, hướng từ trước về sau, thấp nhất cách đất 27cm; càng chân phanh cong gập hướng từ trước về sau; giá để chân trước bên phải bị cong gập hướng từ trước về sau, tỳ sát vào cần khởi động, đầu ngoài phía dưới bị rách đệm cao su kích thước (4x2,5)cm; cách yếm bên trái vị vỡ mất mảnh nhựa kích thước (20,5x5)cm; giá để chân trước bên trái bị cong gập hướng từ sau về trước, từ dưới lên trên, đầu giá để chân bị mài xước dính chất bột mầu trắng; giá để chân sau bên trái bật rời khỏi vị trí, cạnh ngoài khung kim loại bắt giá để chân sau, bên phải có vết mài xước kim loại dính chất bột mầu trắng kích thước (3x3,5)cm; trên phía sau yên xe có lắp giá để hàng bằng gỗ kích thước (63x36x14,5)cm. (bút lục từ số: 15, 16).
Khám xe ô tô BKS 34C – 156.81: Đầu cùng bên trái Ba đờ sốc trước có vết tỳ xước nhựa rải rác dính chất mầu đen, đỏ trên diện (17x10)cm hướng từ sau về trước, đầu bên trái ba đờ sốc bật chốt liên kết. Ốp nhựa bên trái bậc lên xuống ca bin bị vỡ mất mảnh nhựa kích thước (26x8)cm, mặt ngoài đám nhựa có đám vết tỳ xước rải rác dính chất mầu đen, đỏ kích thước 25x8,5cm, thấp nhất cách đất 45cm, hướng từ sau về trước. Cạnh ngoài bậc lên xuống bên trái ca bin có vết tỳ xước kim loại rải rác dính chất mầu đỏ, chất màng mầu đen trên diện (21x2,5)cm, hướng từ sau về trước, điểm thấp nhất cách đất 52cm. Gương chiếu hậu bên trái bị vỡ, chân gương bị xô lệch hướng từ sau về trước. Mặt ngoài cánh cửa bên tái cabin, có vết tỳ xước sơn, lõm kim loại trên diện (99x12,5)cm, hướng từ sau về trước, thấp nhất cách đất 86cm, rải rác dính chất mầu hồng. Mặt ngoài khung xe tại vị trí phía dưới cánh cửa bên trái ca bin có vết tỳ xước kim loại kích thước (23x2)cm hướng từ sau về trước, thấp nhất cách đất 88cm. Mặt ngoài cánh cửa bên trái cabin có vết tỳ xước sơn rải rác dính chất mầu hồng kích thước (27x1)cm, hướng từ sau về trước thấp nhất cách đất 114,5cm. Má ngoài lốp bánh trước bên trái có vết mài xước cao su trên diện (20x17)cm, hướng cùng chiều kim đồng hồ, chếch từ tâm ra ngoài, gần nhất cách mặt lăn. Mặt ngoài la răng bánh trước bên trái và đầu bu rông siết đầu trục bên trái có đám tỳ xước kim loại dính chất màng mầu đen trên diện (15x4)cm. Trên cạnh bu rông bị tỳ xước có dính chất màng mầu ghi, tại điểm đầu vết này trên mặt ngoài la răng có đám vết máu bắn tóe trên diện (6x4,5)cm hướng từ tâm ra ngoài. (bút lục từ số: 17,18).
Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 247/18/TgT ngày 04/6/2018 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Quảng Ninh kết luận tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Đức K do thương tích gây nên hiện tại là: 91% (chín mươi mốt phần trăm). Hiện tại hôn mê, Glasgow 07 điểm, tiên lượng để lại di chứng về thần kinh mức độ nặng, có thể tử vong.
Với các chứng cứ nêu trên, kết hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ thấy có đủ cơ sở kết luận: Trần Quang P phạm tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ‟‟ theo điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến những qui định về trật tự an toàn giao thông đường bộ, đến tính mạng sức khoẻ của con người được pháp luật bảo vệ. Bị cáo đã được học tập, có giấy phép lái xe, khi tham gia giao thông phải quan sát các phương tiện tham gia giao thông, bị cáo phải tuân thủ những qui định của Luật giao thông đường bộ nhưng do ý thức chủ quan, cẩu thả, chấp hành pháp luật kém, khi bị cáo điều khiển xe ô tô để chuyển làn đường đã không chú ý quan sát khi chuyển làn, không đảm bảo an toàn dẫn đến tai nạn, bị cáo đã vi phạm khoản 1, Điều 13 Luật giao thông đường bộ. Hậu quả: bị hại Nguyễn Đức K bị thương tích tổn hại 91% sức khỏe. Hành vi của bị cáo đã phạm tội „„Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ‟‟ theo điểm b, khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Do đó cần phải xử lý nghiêm bị cáo mới mong giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội lần đầu với lỗi vô ý. Sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo cùng chủ phương tiện đã chủ động bồi thường thiệt hại cho người bị hại và đại diện bị hại đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Bố mẹ bị cáo là người có công với cách mạng đã được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bản thân bị cáo có thời gian phục vụ trong quân đội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b,s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác thấy để dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo cũng có một phần lỗi của bị hại. Bị hại khi tham gia giao thông đã phóng nhanh không làm chủ tốc độ nên khi gặp xe ô tô chuyển làn đường đã không xử lý được dẫn đến đâm vào xe ô tô. Căn cứ nghị quyết số: 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của bộ luật hình sự về án treo, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không nhất thiết cấm bị cáo hành nghề.
Về vật chứng: Ngày 01 và 12/6/2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả xe ô tô BKS 34C – 156.81 cho anh Nguyễn Văn K1, trả xe mô tô BKS 14B1 – 017.98 cho bà Dương Thị C. Ngoài ra cơ quan điều tra còn thu giữ giấy phép lái xe số 300078300726 ngày 12/01/2018 do sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp mang tên Trần Quang P. Do không cấm bị cáo hành nghề nên trả bị cáo để đảm bảo quyền dân sự .
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Trần Quang P cùng anh Nguyễn Văn K đại diện chủ xe đã bồi thường cho đại diện gia đình Nguyễn Đức K số tiền 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng), đại diện gia đình anh K có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P, không yêu cầu bồi thường gì khác nên không đề cập xem xét.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo qui định pháp luật.
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thử tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Trần Quang P phạm tội “Vi phạm về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: điểm b, khoản 1 Điều 260, điểm b, s, khoản 1, 2 Điều 51 ; khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự
Xử phạt: Trần Quang P 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24(hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường B, thị xã C, tỉnh A giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại điều 56 của bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng: căn cứ điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại Trần Quang P giấy phép lái xe số 300078300726 ngày 12/01/2018 do sở giao thông vận tải tỉnh Hải Dương cấp mang tênTrần Quang P (đã trả tại phiên tòa)
Áp dụng: Điều 135, điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, luật án phí, lệ phí Toà án, Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai, có mặt bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đại diện hợp pháp của bị hại; - Viện kiểm sát nhân dân tp H; - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục thi hành án dân sự tp H; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Gia Ninh |