vanban.org

Bản án 176/2026/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân. 1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2026/HNGĐ-ST
Ngày: 12/6/2026
V/v tranh chấp: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Mến.

2/ Bà Lê Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Phi Liễu, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.

Ngày 12 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 256/2026/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2026. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 857/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 5 năm 2026. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trương Thị Huỳnh N, sinh ngày 23/5/1993

CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/10/2022; SĐT xxxx xxx xxx

Địa chỉ: Số A đường L, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (Nay là Số A đường L, phường A, thành phố Hồ Chí Minh). Có đơn đề ngày 16/4/2026 xin giải quyết vắng mặt (BL 26).

- Bị đơn: Ông Bùi Vũ P, sinh ngày 01/01/1992;

CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 25/9/2023; SĐT: xxxx xxx xxx

Địa chỉ: Khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ. (Nay là cạnh số G, khu vực P, phường H, thành phố Cần Thơ). Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 24/11/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trương Thị Huỳnh N trình bày:

1/ Về hôn nhân: bà và ông Bùi Vũ P tự nguyện kết hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 06/4/2012. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã không có tiếng nói chung. Bà đã cố hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, không hàn gắn được nên ly thân, ông P đã về nhà cha mẹ sống từ nhiều năm nay. Nhận thấy không còn tình cảm với ông P, không thể hàn gắn được nên bà N xin ly hôn để không còn ràng buộc với nhau.

2/ Về con chung: Bà khai vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Phương T (nữ) sinh ngày 04/02/2010 hiện đang sống với bà N và Bùi Gia B (nam) sinh ngày 21/01/2013 đang sống với ông P. Nguyên đơn yêu cầu được nuôi cháu Bùi Phương T và tự nguyện giao cháu Bùi Gia B cho ông P trực tiếp nuôi; không yêu cầu ông P cấp dưỡng để nuôi con.

3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn ông Bùi Vũ P đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, nên vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt các bên.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Bà Trương Thị Huỳnh N và ông Bùi Vũ P xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Nên được xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng đã có thời gian hạnh phúc, đã có con chung với nhau. Lẽ ra cả hai phải càng hiểu và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng ông P lại không quan tâm đến hôn nhân, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi bà N có đơn xin ly hôn tại tòa án ông vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường H ngày 10/12/2025 (BL 8-9) thì ông P hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ ông không có thiện chí muốn duy trì cuộc hôn nhân này với bà N nữa.

Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng bà N cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ; vợ chồng không thể có tiếng nói chung và không quan tâm đến đối phương. Bản thân bà cũng không còn tình cảm gì với ông P, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ ngày 08/5/2026 (BL 35) và Đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt ngày 16/4/2026 (BL 26), bà N vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với ông P và hiện mâu thuẫn vợ chồng không có cơ hội đoàn tụ, ông P cũng đã có vợ khác. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng bà N và ông P đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Nên việc bà Trương Thị Huỳnh N xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: nguyên đơn xác định vợ chồng có 02 con chung tên Bùi Phương T (nữ) sinh ngày 04/02/2010 hiện đang sống với bà N và Bùi Gia B (nam) sinh ngày 21/01/2013 đang sống với ông P. Cháu Bùi Phương T cũng có nguyện vọng tiếp tục được sống với mẹ (BL 25). Riêng cháu Bùi Gia B hiện đang sống với ông P nhưng bị đơn không hợp tác nên Tòa án không thể lấy ý kiến cháu được (BL 24). Xét trong thời gian vợ chồng ly thân, hiện nay các cháu do bà N và ông P nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Bị đơn cũng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không liên hệ tòa án và không thể hiện ý kiến gì về vấn đề này nên Hội đồng xét xử tiếp tục ổn định việc nuôi con như hiện tại. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt, phù hợp với giới tính và tâm sinh lý của cháu bé, theo Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà Trương Thị Huỳnh N là giao cháu Bùi Phương T cho bà N và giao cháu Bùi Gia B cho ông P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung.

Tuy nhiên ông Bùi Vũ P và Trương Thị Huỳnh N vẫn được quyền tới lui thăm con theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản. Nếu sau này ông P và bà N có tranh chấp hay yêu cầu thay đổi người nuôi con có thể khởi kiện thành vụ kiện khác theo quy định của pháp luật.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: mặc dù đã được giải thích vấn đề cấp dưỡng là quyền lợi của con chung chứ không phải của người nuôi con nhưng bà N vẫn không chấp nhận và ông P không liên hệ Tòa án để trình bày yêu cầu. Xét đây là tự nguyện thỏa thuận của đương sự, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên chấp nhận. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung không được đặt ra giải quyết do đương sự không yêu cầu.

Về tài sản chung: nguyên đơn xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Tòa án không điều chỉnh phần này.

Nợ chung: nguyên đơn xác định vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Tòa án không điều chỉnh phần này.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Cho bà Trương Thị Huỳnh N được ly hôn với ông Bùi Vũ P.

2/- Về con chung: giao cháu Bùi Phương T cho bà Trương Thị Huỳnh N và giao cháu Bùi Gia B cho ông Bùi Vũ P tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng.

Không đặt vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho ông Bùi Vũ P và bà Trương Thị Huỳnh N.

Dành quyền thăm nom con chung cho ông Bùi Vũ P và bà Trương Thị Huỳnh N theo quy định của pháp luật.

3/- Về tài sản chung: không có và không yêu cầu nên Tòa án không điều chỉnh. Nếu sau này các bên có yêu cầu thì sẽ được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo quy định của pháp luật.

4/- Nợ chung: không có và không yêu cầu nên không điều chỉnh. Nếu sau này các bên có yêu cầu thì sẽ được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo quy định của pháp luật.

5/- Về án phí: Bà Trương Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005100 ngày 19/3/2026 tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Trương Thị Huỳnh N đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc bản án được niêm yết tại trụ sở UBND xã, phường nơi cư trú thì các đương sự được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ