vanban.org

Bản án 176/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. PLeiku, tỉnh Gia Lai Tuyên án 08/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công B phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy” Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công B - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công B phạm tội “Tàng trữ trái phép
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PLEIKU
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2023/HSST
Ngày: 08/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hồng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Lê Thị Toan.

2. Bà Trần Thị Ánh Tuyết.

- Thư ký phiên tòa: Ông Diệp Bảo Kiệt - Thư ký Tòa án, Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 161/2023/TLST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 188/2023/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

TRẦN CÔNG B; giới tính: Nam; Sinh năm 1993 tại G.

Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: 51 Đào Duy T, thôn Tiên S, xã Tân S, thành phố P, tỉnh G.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Thợ xây.

Cha: Trần D (đã chết); Mẹ: Nguyễn Thị Kim A- Sinh năm 1972.

Hiện mẹ bị cáo trú tại 51 Đào Duy T, thôn Tiên S, xã Tân S, thành phố P, tỉnh G.

Bị cáo có 03 em ruột (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất sinh năm 2004).

Vợ: Hà Thị Kim O - Sinh năm 1999.

Bị cáo có 02 người con, sinh năm 2019 và năm 2022. Hiện vợ, con của bị cáo trú tại: 51 Đào Duy T, thôn Tiên S, xã Tân S, thành phố P, tỉnh G.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Công B bị tạm giữ từ ngày 18/6/2023, sau đó bị tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an thành phố P, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Công B là người có sử dụng chất ma túy từ khoảng thời gian đầu năm 2023. Thông qua mối quan hệ xã hội, B biết được người phụ nữ tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người có bán ma túy. Vào khoảng 18 giờ ngày 18/6/2023, B gọi điện thoại cho T hỏi mua ma túy thì T đồng ý và hẹn gặp tại khu vực trước số nhà 338 đường Trường C, phường Trà B, thành phố P. Sau đó, B đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ họ tên nhân thân, lai lịch) chở đi đến khu vực đã hẹn và đã mua của T 01 gói nilon chứa ma túy (loại Methamphetamine) với giá 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu trong túi áo mặc trên người, rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Đến 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi B đi đến trước khu vực trước số nhà 14 đường Lê D, Tổ 5, phường Phù Đ, thành phố P thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma túy - Công an thành phố P phát hiện, bắt quả tang; thu giữ của B vật chứng, gồm: 01 gói nilon chứa chất màu trắng dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định), 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh kèm thẻ sim có dãy số 8984.04800.03823.72115.

Qua giám định, tại bản Kết luận giám định số 569 ngày 28/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,4720 gam”.

Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh kèm sim số là của bị cáo Bằng và bị cáo đã dùng để liên lạc mua chất ma túy.

Vật chứng của vụ án, gồm:

- Chất ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì công văn ghi số 569/PC09 ngày 28/6/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G.

- 01 chiếc điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh kèm sim số.

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về bản kết luận giám định số 569/KLGĐ ngày 28/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G nói trên.

Tại bản cáo trạng số 180/CT- VKS ngày 09/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP.P đã truy tố đối với bị cáo Trần Công B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về hành vi của bị cáo Trần Công B và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trần Công B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Công B mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Căn cứ khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 47 BLHS;

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 569/PC09 ngày 28/6/2022 đã được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Gia Lai.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, kèm theo sim số.

- Buộc bị cáo Trần Công B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo Trần Công B nói lời nói sau cùng: Xin Tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm quay về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Công B tại phiên tòa ngày hôm nay hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ, các tài liệu đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Bị cáo Trần Công B là đối tượng sử dụng chất ma túy. Thông qua các mối quan hệ xã hội, bị cáo biết người phụ nữ tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người bán chất ma túy. Vào khoảng 18 giờ ngày 18/6/2023, bị cáo gọi điện cho T hỏi mua ma túy; T đồng ý và hẹn gặp tại khu vực trước số nhà 338 Trường C, phường Trà B, thành phố P, tỉnh G. Sau đó, bị cáo đón xe ôm của một người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) chở đến khu vực đã hẹn và đã mua của T 01 gói nilon chứa ma túy loại Methamphetamine với giá 3.000.000đ. Sau khi mua được ma túy bị cáo cất trong túi áo mặc trên người rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng. Đến 19g30 cùng ngày khi bị cáo đi đến trước cửa nhà số 14 đường Lê D, tổ 5, phường Phù Đ, TP.Pl thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố P phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng; thu giữ của bị cáo B 01 gói nilon bên trong có chứa chất màu trắng, dạng tinh thể (đã niêm phong theo quy định) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh kèm thẻ sim có dãy số 8984.04800.03823.72115.

Qua trưng cầu, tại Kết luận số 569/KLGĐ ngày 28/6/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh G, kết luận: “Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 (một) gói nilon trong bì công văn niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,4720 gam”.

Đối với chất ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định, đã được niêm phong trong 01 bì công văn ghi số 569/PC09 ngày 28/6/2023, có dấu niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh G, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố P chuyển theo vụ án để xử lý.

Bản thân bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của bị cáo là trái pháp luật, bị xã hội lên án gay gắt và pháp luật cũng trừng trị nghiêm khắc đối với loại tội phạm này, nhưng chỉ vì sống buông thả không có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân nên bị cáo đã bất chấp tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Tổng trọng lượng chất ma túy mà bị cáo mua để tàng trữ là 2,4720 gam ma túy loại Methamphetamine, bị cáo với tuổi đời còn trẻ lẽ ra bị cáo phải phấn đấu tu dưỡng rèn luyện bản, nhưng bị cáo lại sớm sa ngã vì thích đua đòi, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị bắt phạm tội quả tang. Vì vậy đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Trần Công B đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, vì vậy cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn và là lao động chính trong gia đình có xác nhận của chính quyền địa phương, do đó cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng:

-Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 569/PC09 ngày 28/6/2023 đã được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh G.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh, kèm theo sim số.

Đối với đối tượng tên T mà bị cáo Trần Công B khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo B không biết rõ nhân thân, lai lịch của đối tượng tên T; Cơ quan điều tra đã tiến hành mở danh bạ, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo B nhưng do sau khi liên lạc với T mua ma túy xong, bị cáo B đã xóa nên không xác định được số điện thoại của T và thông tin liên quan đến việc mua bán ma túy. Do đó, chưa có căn cứ điều tra, xử lý. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, khi nào xác định được sẽ xem xét và xử lý sau.

Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Công B.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Công B phạm tội “Tàng trữ trái phép

chất ma túy”

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Công B: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2023.

3.Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật hình sự

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ghi số 569/PC09 ngày 28/6/2023 đã được niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh G.

- Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, kèm theo sim (điện thoại cũ, đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng bên trong).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/10/2023 giữa Cơ quan CSĐT công an TP. P và Chi cục thi hành án dân sự TP. P).

4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Công Bằng phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ nhà nước.

5.Về quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo:

Căn cứ các Điều 331; 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Báo cho: bị cáo Trần Công B có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay (ngày 08/11/2023).

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ