- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị U - Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176/2023/HNGĐ-ST Ngày 06 – 9 – 2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tiêu Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phan Minh Sang
Ông Phạm Thanh Tần
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 254/2023/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị U, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1970; Địa chỉ cư trú: Ấp L, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn bà Nguyễn Thị U trình bày:
Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1993, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng không có tiếng nói chung nên đã ly thân nhau từ năm 2016. Bà U xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với ông H được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận bà và ông H là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà và ông H có 04 con chung tên Nguyễn Thị Tr sinh năm 1993, Nguyễn Thị N sinh năm 1995, Nguyễn Xuân Đ sinh năm 2002 và Nguyễn Tiểu M sinh năm 2003, hiện các cháu Tr, N và M đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; đối với cháu Đỉnh bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con không đặt ra nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Bà U xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà U xác định trong thời gian chung sống bà và ông H không có nợ ai và cũng không ai nợ lại, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà U tự tìm hiểu và chung sống với nhau vào năm 1993, không có đăng ký kết hôn. Trong thời gian chung sống vợ chồng vẫn bình thường, không xảy ra mâu thuẫn, ông H xác định do bà U không chung thủy nên bà U yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ giữa bà U với ông là vợ chồng ông đồng ý.
Về con chung: Trong thời gian chung sống ông và bà U có 04 con chung Nguyễn Thị Tr sinh năm 1993, Nguyễn Thị N sinh năm 1995, Nguyễn Tiểu M sinh năm 2003, hiện các cháu Tr, N và M đều đã trưởng thành, không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn Nguyễn Xuân Đ sinh năm 2002 bị hạn chế năng lực, khi ly hôn ông đồng ý giao cho bà U nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng cho con không đặt ra.
Về tài sản chung: Ông H xác định ông và bà U có tài sản chung nhưng ông và bà U tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông H xác định xác định trong thời gian chung sống ông và bà U không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Văn H chung sống với nhau vào năm 1993, ông, bà xác lập mối quan hệ hôn nhân trên tinh thần tự nguyện nhưng không có đăng ký kết hôn. Tại đơn khởi kiện bà U yêu cầu giải quyết không công nhận mối quan hệ hôn nhân giữa bà U với ông H, được ông H đồng ý. Tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà U, không công nhận bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.
Về con chung: Trong thời gian chung sống bà U và ông H có 04 con chung tên Nguyễn Thị Tr sinh năm 1993, Nguyễn Thị N sinh năm 1995, Nguyễn Xuân Đ sinh năm 2002 và Nguyễn Tiểu M sinh năm 2003, hiện các cháu Tr, N và M đều đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét; đối với cháu Nguyễn Xuân Đ đã thành niên nhưng bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự, khi ly hôn bà U yêu cầu được nuôi dưỡng. Xét thấy yêu cầu của bà U là phù hợp, được chấp nhận; việc cấp dưỡng cho con bà U không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung: Bà U và ông H xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: Bà U và ông H xác định trong thời gian chung sống không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị U phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; khoản 1 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1.Về hôn nhân: Không công nhận bà Nguyễn Thị U và ông Nguyễn Văn H là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Xuân Đ sinh năm 2022 cho bà Nguyễn Thị U tiếp tục nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng không đặt ra. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị U phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0003816 ngày 31/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình; bà U đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bà U, ông H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - CCTHADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tiêu Hồng Phượng |