vanban.org

Bản án 176/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 24/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trương Trọng T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: bị cáo Trương Trọng T 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (06/9/2022). Phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên xử, tịch thu tiêu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Trọng Thanh - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trương Trọng T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2022/HSST
Ngày: 24/11/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hữu Đệ

2. Ông Phạm Hồng Sơn

- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.

- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: ông Hứa Hải Dương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 24 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 142/2022/HSST, ngày 12/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 169/2022/QĐXXST-HS ngày 11/11/2022, đối với bị cáo:

Trương Trọng T (Tên gọi khác: T Sẹo) - sinh năm 1997. Tại: tỉnh Bình Thuận. Hộ khẩu thường trú: khu phố Hải Tân 3, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; chỗ ở: thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Trương Sơn và bà Hà Thị Tao (đã chết); vợ: Bùi Ngọc Minh Thi; con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Hoạt động nhân thân:

Ngày 03/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận tuyên phạt Trương Trọng T 05 năm 06 tháng tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 127/2015/HSST (đã được xóa án tích)

Bị cáo bị bắt ngày 06/9/2022 và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Nguyễn Thị Kim Phương - sinh năm 1976. Nơi cư trú: thôn Hà Thủy 2, xã Chí Công, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Lê Thị Ánh Nguyệt - sinh năm 1998. HKTT: Ấp Suối Soong 1, xã Phú Vinh, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:

Khoảng 15 giờ 05 phút ngày 06/9/2022, tại hẻm đường đất thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công, huyện T, tỉnh Bình Thuận. Tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bình Thuận cùng Đồn biên phòng Hòa Minh và Công an xã Chí Công, huyện T tiến hành tuần hành kiểm tra, bắt quả tang Trương Trọng T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong khẩu trang y tê màu xám treo ở mốc cổ xe Wave màu đỏ, biển số 60P7-0814 do T điều khiển có 01 gói nylon không màu có nẹp kín một đầu màu xanh (niêm phong ký hiệu số 01) (giám định ký hiệu M1), kích thước khoảng (02x2,5)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và T khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá của T tàng trữ nhằm mục đích để sử dụng; 01 xe máy màu đỏ biển số 60P7-0814. Ngoài ra không thu giữ gì khác.

Cùng ngày 06/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra lệnh khám xét khẩn cấp số 05, khám xét chỗ ở của Trương Trọng T, tại thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công, huyện T. Qua khám xét thu giữ tài liệu, đồ vật liên quan gồm:

- 01 hộp nhựa hình trụ, có kích thước (02x7,5) cm, (niêm phong ký hiệu 04) (giám định ký hiệu M2), bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu đỏ được hàn kín, kích thước giống nhau khoảng (1,5x01) cm, bên trong mỗi đoạn có chứa chất rắn dạng nén và 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu màu xanh, có kích thước khoảng (1,5x02) cm, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng.

- 01 túi vải màu xám có khóa kéo, bên trong có 03 đoạn ống nhựa màu đỏ được hàn kín, có kích thước giống nhau khoảng (1,5x01)cm, bên trong mỗi đoạn có chứa chất rắn dạng nén (niêm phong ký hiệu số 02); (giám định ký hiệu M3); 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu màu đỏ, có kích thước khoảng (03x04)cm (niêm phong ký hiệu 03) (giám định ký hiệu M4), bên trong có chứa chất rắn dạng nén và 01 gói nylon không màu được hàn kín có nẹp khóa một đầu màu đỏ, có kích thước khoảng (04x07)cm, (giám định ký hiệu M5), bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng.

- 01 cân tiểu ly, 01 kéo kim loại.

- 01 điện thoại hiệu Vsmart màu xanh đen. (niêm phong ký hiệu số 05)

Tại bản kết luận giám định số 966/KL-KTHS ngày 13/9/2022 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận kết luận:

- Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,5592 gam; là Methamphetamine.

- Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,1319 gam; là Heroine.

- Mẫu M3 gửi giám định có khối lượng 0,1270 gam; là Methamphetamine.

- Mẫu M4 gửi giám định có khối lượng 1,9993 gam; là Methamphetamine.

- Mẫu M5 gửi giám định có khối lượn 1,5904 gam; là Heroine.

Quá trình điều tra Trương Trọng T khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối ngày 05/9/2022, Trương Trọng T vào thành phố Phan Thiết mua của người T niên, không rõ lai lịch, số tiền 2.000.000 đồng ma túy. Trong đó 1.300.000 đồng Heroin và 700.000 đồng ma túy đá. T cất giấu mang về nhà tại thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công, huyện T. Đến khoảng 15 giờ 05 phút ngày 06/9/2022, T cất giấu 01 gói ma túy vào trong 01 khẩu trang y tế màu xám treo ở cổ xe Wave màu đỏ, T điều khiển xe mô tô biển số 60P7-0814 đi trên đường hẻm thuộc thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ tang vật chứng.

Quá trình ghi lời khai ngày 06/9/2022, T khai nhận cất giấu ma túy tại nhà để mua bán kiếm lời, nhưng tại biên bản ghi lời khai ngày 14/9/2022 T khai nhận cất giấu ma túy để sử dụng.

Bản cáo trạng số: 148/CT-VKSTP-HS, ngày 12/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố bị cáo Trương Trọng T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và tranh luận vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về phần xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), tịch thu tiêu huỷ:

- 01 gói nylon không màu có nẹp kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (02x2,5)cm; 0,4612 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 khẩu trang y tế màu xám. Được niêm phong trong phong bì số 966/1.

- 06 đoạn ống nhựa màu đỏ, đều được hàn kín, mỗi đoạn kích thước khoảng (1,5x01) cm, đều đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (1,5x02)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04x07)cm; 0,0447 gam mẫu M2; 0,0353 gam mẫu M3 và 1,9016 gam mẫu M4 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/2.

- 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (03x04)cm; 1,4527 gam mẫu M5 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/3.

- 01 cân tiểu ly, 01 kéo kim loại, 01 hộp nhựa hình trụ, 01 túi vải màu xám. Được niêm phong trong phong bì số 04.

Lời nói sau cùng của bị cáo: xin Hội đồng xét xử xem xét, xử cho bị cáo một mức án thấp nhất, để bị cáo sớm trở về với gia đình hòa nhập với xã hội. Bị cáo hứa sẽ không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về chứng cứ và hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trương Trọng T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng, không oan. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả giám định chất ma tuý và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào 15 giờ 05 phút ngày 06/9/2022 tại thôn Hiệp Đức 2, xã Chí Công, huyện T, Trương Trọng T đã tàng trữ 05 gói ma túy đá và 06 tép Heroin, có tổng khối lượng 4,4078 gam; là Heroine và Methamphetamine; mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, thu giữ tang vật chứng.

Vì vậy, bản cáo trạng số 148/CT-VKSTP-HS, ngày 12/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố bị cáo Trương Trọng T, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Ma tuý, là loại độc dược, là chất gây nghiện mà Nhà nước đã nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép…đây là một trong những nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội, các căn bệnh thế kỷ, làm lây truyền vi rut gây bệnh khó chữa, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, thế nhưng bị cáo đã coi thường pháp luật, bất chấp hậu quả, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, nên cần phải xử lý bị cáo bằng một mức án nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, để có đủ thời gian cai nghiện và cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời để bảo vệ tính nghiêm minh của pháp luật hình sự Việt Nam.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 03/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bình Thuận xử phạt 05 năm 06 tháng tù, về tội“Mua bán trái phép chất ma túy”, tại bản án số 127/2015/HSST (đã được xóa án tích).

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên cần xem xét chiếu cố khi xử lý, để giảm nhẹ cho bị cáo một phần trong mức hình phạt, để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước Xã hội chủ nghĩa.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại hiệu Vsmart màu xanh đen của T không liên quan đến vụ án và 01 xe mô tô biển số 60P7-0814 do Lê Thị Ánh Nguyệt đứng tên chủ sở hữu, Nguyệt bán xe cho Nguyễn Thị Kim Phương (là mẹ vợ T). Phương cho T mượn làm phương tiện đi lại, không biết T sử dụng để tàng trữ trái phép chất ma túy nên cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả lại cho Phương là đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Kim Phương đồng ý với việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, bà Phương thừa nhận đã nhận lại xe của mình và không có ý kiến gì thêm, coi như sự việc đã được giải quyết xong, nên không xem xét giải quyết trong phần quyết định.

Đối với:

- 01 gói nylon không màu có nẹp kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (02x2,5)cm; 0,4612 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 khẩu trang y tế màu xám. Được niêm phong trong phong bì số 966/1.

- 06 đoạn ống nhựa màu đỏ, đều được hàn kín, mỗi đoạn kích thước khoảng (1,5x01) cm, đều đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (1,5x02)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04x07)cm; 0,0447 gam mẫu M2; 0,0353 gam mẫu M3 và 1,9016 gam mẫu M4 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/2.

- 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (03x04)cm; 1,4527 gam mẫu M5 còn lại sau giám định: Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/3.

Đây là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 cân tiểu ly, 01 kéo kim loại, 01 hộp nhựa hình trụ, 01 túi vải màu xám, đây là phương tiện công cụ dùng trong việc phạm tội, nên tịch thu tiêu hủy.

Về đối tượng có liên quan:

Đối với người T niên đã bán ma túy cho T, do không rõ lai lịch nên sẽ tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của pháp luật.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tại phiên tòa là có căn cứ, nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

2. Tuyên bố: bị cáo Trương Trọng T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

3. Xử phạt: bị cáo Trương Trọng T 02 năm 06 tháng (Hai năm sáu tháng) tù, thời gian ở tù tính từ ngày bị bắt (06/9/2022).

4. Phần xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; tuyên xử, tịch thu tiêu huỷ:

- 01 gói nylon không màu có nẹp kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (02x2,5)cm; 0,4612 gam mẫu M1 còn lại sau giám định; 01 khẩu trang y tế màu xám. Được niêm phong trong phong bì số 966/1.

- 06 đoạn ống nhựa màu đỏ, đều được hàn kín, mỗi đoạn kích thước khoảng (1,5x01) cm, đều đã cắt lấy mẫu; 01 gói nylon không màu, được hàn kín một đầu màu xanh, kích thước khoảng (1,5x02)cm; 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (04x07)cm; 0,0447 gam mẫu M2; 0,0353 gam mẫu M3 và 1,9016 gam mẫu M4 còn lại sau giám định. Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/2.

- 01 gói nylon không màu, được hàn kín, có nẹp kín một đầu màu đỏ, kích thước khoảng (03x04)cm; 1,4527 gam mẫu M5 còn lại sau giám định. Được niêm phong trong phong bì dán giấy niêm phong mẫu sau giám định số 966/3.

- 01 cân tiểu ly, 01 kéo kim loại, 01 hộp nhựa hình trụ, 01 túi vải màu xám. Được niêm phong trong phong bì số 04.

(Vật chứng được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2022)

5.Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6.Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/11/2022).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ