vanban.org

Bản án 176/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 03/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thạch C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt bị cáo Thạch C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã xong. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Thạch C - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thạch C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2022/HS-ST
Ngày: 03-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm;

2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 167/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 168/2022/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:

Thạch C, sinh năm 1987 tại tỉnh T; hộ khẩu thường trú: Ấp O, xã H, huyện T, tỉnh T; chỗ ở: Ấp P, xã P, thị xã B, tỉnh B; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thạch D, sinh năm 1962 và bà Thạch Thị Sa M (đã chết); có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giữ từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Đặng Hoàng P, sinh năm 2001; địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã N, tỉnh S, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Công ty TNHH TMDV Cầm đồ A; địa chỉ: Khu tái định cư H, phường H, thành phố T, tỉnh B.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Huỳnh Xuân H – Chức vụ: Giám đốc, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Ông Hà Trọng A, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố 1, phường H, thành phố T, tỉnh B, có yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Hoàng H, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thạch C và anh Đặng Hoàng P là bạn bè quen biết. Anh P ở phòng trọ số 1, Thạch C ở phòng trọ số 2 của nhà trọ Võ Thị Bích H thuộc khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh B.

Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 24/4/2022, Thạch C qua phòng trọ của anh P hỏi mượn chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI, màu xanh đen, biển số 83E1-321.20 của anh P để đi lấy đồ ăn ở ấp P, xã P, thị xã B thì anh P đồng ý và giao xe cho Thạch C. Trên đường đi, Thạch C dừng lại đổ xăng thì phát hiện trong cốp xe có 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe của xe mô tô biển số 83E1-321.20, 01 Giấy chứng minh nhân dân, 01 Giấy phép lái xe hạng A1 mang tên của anh P và số tiền 2.000.000 đồng. Lúc này, Thạch C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe và tiền của anh P để trả nợ nên điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ A ở khu phố 1, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương do anh Hà Trọng A làm chủ yêu cầu cầm xe. Thạch C nói dối xe mô tô của bạn cho mượn đi cầm thì anh Hà Trọng A tin tưởng và đồng ý cầm xe với số tiền 11.500.000 đồng. Tiền có được, Thạch C trả nợ và tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi không thấy Thạch C quay lại trả xe, anh Đặng Hoàng P nhiều lần gọi điện thoại cho Thạch C nhưng không được. Đến khoảng 19 giờ ngày 05/5/2022, trong lúc Thạch C lén lút quay về phòng trọ của mình để lấy giấy tờ thì bị anh P phát hiện, báo Công an phường H đến mời Thạch C làm việc. Sau đó, vụ việc được chuyển giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 Xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI màu xanh đen biển số 83E1-321.20;

- 01 Giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83E1-321.20;

- 01 Giấy Chứng minh nhân dân tên Đặng Hoàng P;

- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Đặng Hoàng P;

- 01 Liên hợp đồng cầm cố số 01577 ngày 24/4/2022 thu giữ của Hà Trọng A.

- 01 Liên hợp đồng cầm cố số 01577 ngày 24/4/2022 thu giữ của Thạch C;

Theo Kết luận định giá tài sản ngày 10/5/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Bến Cát kết luận: 01 Xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI màu xanh đen biển số 83E1-321.20 trị giá 19.500.000 đồng.

Ngày 15/5/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã xử lý vật chứng giao trả 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI màu xanh đen biển số 83E1-321.20, 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83E1-321.20, 01 giấy Chứng minh nhân dân và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Đặng Hoàng P cho anh P.

Về trách nhiệm dân sự: Số tiền 11.500.000 đồng để cầm cố xe mô tô, qua điều tra xác định được là tài sản của anh Hà Trọng A. Ngày 16/5/2022, Thạch C đã thỏa thuận và bồi thường cho anh A số tiền 11.500.000 đồng và bồi thường cho anh Đặng Hoàng P số tiền 2.000.000 đồng.

Ngày 20/6/2022, Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Công ty TNHH Thương mai dịch vụ cầm đồ A số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”.

Quá trình điều tra, Thạch C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 166/CT-VKSBC ngày 03/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thạch C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Thạch C mức hình phạt từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022.

Bị cáo Thạch C đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát. Trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 24/4/2022, tại nhà trọ Võ Thị Bích H thuộc khu phố P, phường H, thị xã B, tỉnh B, bị cáo Thạch C đã có hành vi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX FI biển số 83E1-321.20 trị giá 19.500.000 đồng, bên trong cốp xe có 2.000.000 đồng tiền mặt của anh Đặng Hoàng P để đi công việc nhưng sau đó do nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh P nên bị cáo đã lấy số tiền mặt trong cốp xe và đem xe đi cầm cố lấy tiền để trả nợ và tiêu xài rồi bỏ trốn. Tổng giá trị tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt là 21.500.000 đồng.

Xét bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết hành vi mượn tài sản của người khác rồi chiếm đoạt là vi phạm pháp luật. Nhưng vì động cơ tư lợi, bản chất tham lam, muốn có tiền để phục vụ cho mục đích cá nhân nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức liều lĩnh và xem thường pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho quần chúng nhân dân.

[2.3] Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Như vậy, bản Cáo trạng số 166/CT-VKSBC ngày 03/10/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Thạch C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, toàn bộ tài sản cũng đã được thu hồi giao trả lại cho bị hại; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật cũng còn hạn chế. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng:

- Các vật chứng bao gồm 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX FI màu xanh đen biển số 83E1-321.20, 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 83E1-321.20, 01 giấy Chứng minh nhân dân và 01 Giấy phép lái xe hạng A1 tên Đặng Hoàng P đây là tài sản và giấy tờ cá nhân của bị hại nên Cơ quan Cảnh sát điều tra giao trả lại cho bị hại là phù hợp và có căn cứ.

- Đối với 02 văn bản gồm: 01 liên hợp đồng cầm cố số 01577 ngày 24/4/2022 thu giữ của Hà Trọng A và 01 liên hợp đồng cầm cố số 01577 ngày 24/4/2022 thu giữ của Thạch C. Đây là những tài liệu chứng cứ trực tiếp phục vụ cho việc chứng minh tội phạm nên cần lưu giữ tại hồ sơ vụ án.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” của Công ty TNHH Thương mại dịch vụ cầm đồ A, Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh B đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng là phù hợp.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Thạch C phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Thạch C 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/5/2022 đến ngày 15/5/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã xong.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Thạch C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thởi hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ