- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh N tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176/2022/HS-ST Ngày 6 - 7 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Huấn và ông Đào Nam Dương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Phó Văn Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 6 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn Bá Hiến huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 62/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử:73/2022/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Minh N, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1984; tại Khu phố 2, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; có bố là Phạm Ngọc Q (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị T (đã chết); có vợ là Lê Thị Hồng T và có 03 con (lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2013); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2018/HSST ngày 24/8/2018 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt Phạm Minh N 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 14/6/2019, chấp hành xong án phí ngày 18/10/2018. (Đã được xóa). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/3/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan :
Chị Lê Thị Hồng T, sinh năm 1982 ; Địa chỉ : Khu phố II, thị trấn H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc,“ vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Minh N là người nghiện ma túy heroin từ khoảng năm 2006. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 20/3/2022, khi N đang ở nhà thì có nhu cầu sử dụng ma túy, N một mình đi xe đạp nhãn hiệu Việt Nhật từ nhà đến khu vực chợ tạm thuộc thôn N 2, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, N gặp và mua được 01 gói ma túy heroin với giá 300.000 đồng của 01 nam giới khoảng 30 tuổi (N không biết tên, địa chỉ) và được người nam giới này cho thêm 01 bơm kim tiêm, 01 lọ nước cất để sử dụng ma túy. Sau khi mua được ma túy N cất giấu gói ma túy tại túi quần phía trước bên trái đang mặc trên người, còn bơm kim tiêm và lọ nước cất N giấu tại túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của N rồi tiếp tục đi xe đạp để tìm địa điểm vắng người để sử dụng ma túy. Khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, N đi đến ven đường dân sinh gần nhà văn hóa thôn N 1, xã T thì bị Công an huyện Bình Xuyên phát hiện bắt quả tang. Thu giữ tang vật, gồm: 01 gói bọc bên ngoài bằng mảnh giấy ô ly, kích thước (01 x 02)cm, bên trong chứa các chất cục bột màu trắng tại túi quần phía trước bên trái đang mặc trên người N được niêm phong ký hiệu A; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng loại 03ml/cc, 01 lọ nước cất Novocain 03% chưa qua sử dụng tại túi áo khoác bên trái đang mặc trên người của N. Ngoài ra còn tạm giữ 01 xe đạp nhãn hiệu Việt Nhật màu xanh, đã cũ của N.
Cùng ngày 20/3/2022, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Minh N tại Khu phố 2, thị trấn H, huyện B nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu ký hiệu A đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số: 666/KLGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, kết luận: Chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2827g (không phảy hai tám bảy gam, không kể bao bì) loại heroin. Hoàn trả 0,2353g mẫu và toàn bộ bao gói sau giám định.
Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu nước tiểu của Phạm Minh N và trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định chất ma túy, kết quả giám định xác định trong mẫu nước tiểu của N có chất ma túy Morphine. Sau giám định đã hoàn trả 01 chai nhựa và toàn bộ bao gói.
Về vật chứng:
Đối với 0,2353 gam mẫu, 01 chai nhựa cùng toàn bộ bao gói cơ quan giám định hoàn trả; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng loại 03ml/cc; 01 lọ nước cất Novocain 03% chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt Nhật màu xanh, đã cũ, quá trình điều tra xác định là xe đạp của chị Lê Thị Hồng T (vợ của N) mua từ khoảng tháng 02/2019 để sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Ngày 20/3/2022, N sử dụng chiếc xe đạp đi mua ma túy để sử dụng chị T không biết nên cần trả lại cho chị T.
Quá trình điều tra xác định Phạm Minh N không có nghề nghiệp, không có thu nhập, mục đích tàng trữ ma túy là để sử dụng.
Đối với đối tượng bán ma túy cho N tại khu vực chợ tạm thuộc thôn N 2, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, N không biết tên, tuổi, địa chỉ, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được danh tính nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, Phạm Minh N đã thành khẩn khai nhận hành vi của mình.
Tại Cáo trạng số 69/CT-VKSBX ngày 10 tháng 6 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Phạm Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Phạm Minh N từ 01 năm 09 tháng tù đến 02 năm 03 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng:
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị Hồng T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng quá trình điều tra đã khai đầy đủ phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và sự việc xảy đúng như lời khai của bị cáo.
XÉT THẤY:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo Phạm Minh N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 20/3/2022 tại ven đường dân sinh gần Nhà văn hóa thôn N 1, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, Phạm Minh N đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy Heroine có khối lượng là 0,2827g, mục đích để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Bình Xuyên bắt quả tang, thu giữ cùng toàn bộ tang vật.
[3] Xét lời nhận tội của bị cáo là phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như: Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và làm chứng và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Phạm Minh N đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt từ 01 năm đến 05 năm tù.
[4] Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến tính chất độc quyền về quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, là nguyên nhân, phát sinh các tệ nạn xã hội, làm ảnh hưởng đến phong trào phòng chống các tệ nạn xã hội ở địa phương, loại tội phạm này hiện nay ngày càng ra tăng; vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo và xử phạt bị cáo mức hình phạt tù mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung, vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên là phù hợp.
[5] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, tuy nhiên, trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân xấu đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng bị cáo không lấy đó là bài học mà tiếp tục phạm tội. Với hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới có đủ tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã xác minh bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản; mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng không có mục đích kiếm lời; vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo N.
Đối với đối tượng bán ma túy cho N tại khu vực chợ tạm thuộc thôn N 2, xã T, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, N không biết tên, tuổi, địa chỉ, quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát, xác minh nhưng không xác định được danh tính nên không có cơ sở để xử lý theo quy định của pháp luật; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về vật chứng: Đối với 0,2353 gam mẫu, 01 chai nhựa cùng toàn bộ bao gói cơ quan giám định hoàn trả; 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng loại 03ml/cc; 01 lọ nước cất Novocain 03% chưa qua sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt Nhật màu xanh, đã cũ, quá trình điều tra xác định là xe đạp của chị Lê Thị Hồng T (vợ của N) mua từ khoảng tháng 02/2019 để sử dụng làm phương tiện đi lại hàng ngày. Ngày 20/3/2022, N sử dụng chiếc xe đạp đi mua ma túy để sử dụng chị T không biết nên cần trả lại cho chị T là phù hợp với quy định pháp luật.
[8] Về án phí : Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phạm Minh N 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 20 tháng 3 năm 2022.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 0,2353 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói cơ quan giám định hoàn trả lại theo Kết luận giám định số 666/KLGĐ ngày 24/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc; 01 mẫu chai nhựa cùng toàn bộ bao gói cơ quan giám định hoàn trả lại theo Kết luận giám định số 708/KLGĐ ngày 28/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc, 01 bơm kim tiêm chưa qua sử dụng loại 03ml/cc; 01 lọ nước cất Novocain 03% chưa qua sử dụng. Trả lại 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu Việt Nhật màu xanh, đã cũ, cho chị Lê Thị Hồng T. Tất cả vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên lập ngày 5 tháng 7 năm 2022.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Minh N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ khi nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - VKSND huyện Bình Xuyên; - CQĐT - CA huyện Bình Xuyên; - CQCSTHAHS - CA huyện Bình Xuyên; - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên; - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiền |