- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân và gia đình"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH N ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 176 /2022/HNGĐ-ST Ngày 15-9-2022 V/v ly hôn, nuôi con chung giữa Chị L và anh N |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH N ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Đỗ Việt Hùng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh N Định.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh N Định tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 147/2022/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2022 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Thân Thị Thanh L, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn V, xã T, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang (vắng mặt);
Bị đơn: Anh Nguyễn Vũ Hoàng N, sinh năm 1990. Hộ khẩu thường trú: Xóm X, xã R, huyện Hải Hậu, tỉnh N Định. Hiện đang chấp hành hình phạt tù tại: Đội 27, phân trại số 3, trại giam Xuân Lộc, xã Xuân Trường, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 22-7-2022, quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Thân Thị Thanh L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N đăng ký kết hôn ngày 11-10-2016 tại Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung. Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận đến tháng 9/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, quan điểm sống sống khác nhau, ngoài ra vợ chồng còn bất đồng về kinh tế nên anh N đã đánh chị L. Do đó, chị L đưa con về sống cùng bố mẹ đẻ ở xã Nghĩa Trung, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang từ ngày 20-9-2017, vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Sau đó, anh N vi phạm pháp luật và phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai từ ngày 07-02-2019 cho đến nay. Nay chị L nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh N.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Y, sinh ngày 13-01-2017, hiện nay đang ở cùng chị L và gia đình bên ngoại. Khi ly hôn, chị L có nguyện vọng được nuôi con và không yêu cầu anh cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị L xác nhận không có tài sản và công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 15-8-2022, bị đơn anh Nguyễn Vũ Hoàng N có lời khai phù hợp với lời khai của chị L về thời gian vợ chồng tìm hiểu, kết hôn và chung sống. Với điều kiện của anh N hiện nay đang phải chấp hành hình phạt tù mà chị L đề nghị xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn và xin được vắng mặt.
Về con chung: Anh N có lời khai thống nhất với chị L về con chung, vợ chồng có một con chung Nguyễn Y, sinh ngày 13-01-2017. Nay ly hôn, anh N nhất trí để con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng và anh có nguyện vọng sau này có điều kiện anh thăm con thì chị L không được ngăn cản.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Anh N xác nhận vợ chồng không có tài sản và công nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tại phiên tòa phát biểu:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình; Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự: Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Y, sinh ngày 13-01-2017 cho chị Thân Thị Thanh L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Nguyễn Vũ Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L. Về án phí: chị L là nguyên đơn phải nộp án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị L, anh N là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N là quan hệ hôn nhân hợp pháp vì được xây dựng trên cơ sở tự nguyện và được Uỷ ban nhân dân xã Nghĩa Trung. Huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang đăng ký kết hôn ngày 11-10-2016. Vợ chồng sống hòa thuận đến khoảng tháng 9-2017 thì phát sinh mâu thuẫn và sống ly thân từ đó cho đến nay. Do đó, chị L đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh N.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh N, qua xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị L và anh N xuất phát từ tính cách, quan điểm sống của hai người thường bất đồng, không thống nhất được cả trong việc làm ăn kinh tế nên không hòa hợp, hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, anh N cũng xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nhất trí ly hôn. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L đối với anh N là phù hợp quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Y, sinh ngày 13-01-2017. Hiện nay con đang ở cùng chị L và gia đình ngoại. Chị L, anh N thống nhất ý kiến để chị L tiếp tục nuôi dưỡng con, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Xét điều kiện hoàn cảnh hiện nay và nguyện vọng của hai bên thì thấy: Từ khi vợ chồng sống ly thân, con chung do chị L trực tiếp nuôi dưỡng, anh N hiện đang phải chấp hành hình phạt tù, không có điều kiện trực tiếp đối với con. Do đó, cần giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L, hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản và nghĩa vụ tài sản chung: Chị L, anh N đều xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Thân Thị Thanh L phải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Thân Thị Thanh L và anh Nguyễn Vũ Hoàng N.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Y, sinh ngày 13-01-2017 cho chị Thân Thị Thanh L tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh Nguyễn Vũ Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị L. Hai bên có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Chị Thân Thị Thanh L phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tại biên lai số 0006255 ngày 01-8-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu. Chị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND tỉnh; - VKSND huyện; - Chi cục THADS huyện; - UBND xã Nghĩa Trung; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |