vanban.org

Bản án 176/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A đối với anh Trương Chí Đ. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Trương Chí Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 176/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 01/9/2020
V/v tranh chấp ly hôn, về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hồng;

2. Ông Lê Đ Thụy;

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Kiệt, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 01 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 402/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 5 năm 2020 về tranh chấp “ly hôn, về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 335/2020/QĐXX-ST ngày 16 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1984; địa chỉ: số 438/44 L, phường 1, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ liên lạc: số 219, ấp L, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Trương Chí Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim A trình bày: Chị và anh Trương Chí Đ tự tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau vào tháng 5/2017, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã M Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 184 ngày 04/10/2017. Vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng không quan tâm gia đình nên thường cãi nhau dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, đến cách nay khoảng 08 tháng thì mâu thuẫn trầm trọng và không còn chung sống từ đó đến nay. Từ khi không còn chung sống, vợ chồng không tới lui thăm nhau, không hàn gắn tình cảm. Nay, nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài chị yêu cầu được ly hôn với anh Trương Chí Đ. Về quan hệ con chung: quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên Trương Khuê Kim M, sinh ngày 29/01/2018 (hiện do chị A chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung. Về quan hệ tài sản chung: không có. Về quan hệ nợ chung: không có.

Tại phiên tòa, chị A giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn anh Trương Chí Đ được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu ly hôn với anh Trương Chí Đ, anh Đ có nơi cư trú ấp M, xã M, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn anh Trương Chí Đ được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là có căn cứ.

Chị Nguyễn Thị Kim A yêu cầu ly hôn với anh Trương Chí Đ. Chị Anh và anh Đ có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Theo chị A trình bày, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chồng không quan tâm gia đình nên mâu thuẫn ngày càng nhiều hơn, đến cách nay khoảng 08 tháng thì mâu thuẫn trầm trọng và không còn chung sống đến nay. Nhận thấy, tình cảm không còn, chị yêu cầu ly hôn với anh Đ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án về việc chị A yêu cầu ly hôn và triệu tập anh Đ tham gia các phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt và không có ý kiến phản đối yêu cầu ly hôn của chị A. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị A và anh Đ đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, anh Đ không quan tâm đến gia đình nên thường cãi nhau, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày mâu thuẫn nhiều hơn và không còn chung sống khoảng 08 tháng đến nay. Trong thời gian này, hai bên c ng không tạo điều kiện cho nhau hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau c ng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị A là ph hợp theo quy định pháp luật.

Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, chị Anh xác định vợ chồng có 01 con chung tên Trương Khuê Kim M, sinh ngày 29/01/2018 (hiện do chị A chăm sóc, nuôi dưỡng). Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, từ khi vợ chồng không còn sống chung với nhau, cháu M do chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên tâm tư tình cảm của cháu gắn liền với người nuôi dưỡng và trong quá trình giải quyết anh Đ c ng không có ý kiến phản đối yêu cầu này của chị A. Do đó, để chị A tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu M là ph hợp với pháp luật.

Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị A không có yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ tài sản chung: Chị A trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Về quan hệ nợ chung: Chị A trình bày không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: - Các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Các Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Kim A đối với anh Trương Chí Đ.

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Kim A được ly hôn với anh Trương Chí Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 184, ngày 04 tháng 10 năm 2017 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Hội Đông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trương Chí Đ không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị Kim A được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trương Khuê Kim M, sinh ngày 29/01/2018 (hiện do chị A chăm sóc, nuôi dưỡng). Anh Trương Chí Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Nguyễn Thị Kim A c ng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Trương Chí Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không có.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc chị Nguyễn Thị Kim A xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì chị Nguyễn Thị Kim A và anh Trương Chí Đ phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, chị Nguyễn Thị Kim A phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0008398 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 19/5/2020. Chị A đã nộp đủ án phí.

Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ