vanban.org

Bản án 176/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị A và anh Phạm Chí K là vợ chồng.

Về con chung: Có một con chung tên Phạm Ngọc T, sinh năm 2002. Chị A và anh K không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Chị A và anh K không đặt ra yêu cầu nên không xem xét, giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Nguyễn Thị A tranh chấp ly hôn với anh Phạm Chí K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị A và anh Phạm Chí K là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 176/2018/HNGĐ-ST
Ngày 02-8-2018
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Tuyết Mai và ông Huỳnh Minh Giới.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Văn Bổng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.

Ngày 02 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 342/2018/TLST - HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2018 về “tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2018/QĐXXST – HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị A, sinh năm 1975 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp BMII, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Phạm Chí K, sinh năm 1971 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp BMII, xã KH, huyện TVT, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 18/5/2018 và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị A trình bày:

Chị và anh Phạm Chí K tự nguyện kết hôn năm 1995, đến nay không có đăng ký kết hôn theo quy định. Trong thời gian chung sống chị và anh K có nhiều bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung và ly thân gần 03 năm cho đến nay không hàn gắn chung sống lại được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Chí K.

Về con chung: Thời gian chung sống chị và anh K có 01 con chung tên Phạm Ngọc T, sinh năm 2002 hiện do chị nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn chị xác định tự thỏa thuận nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung chị xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Xét việc vắng mặt của anh K đã được Tòa án triệu tập tham gia hòa giải và phiên tòa sơ thẩm hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 207 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án không tiến hành hòa giải được và Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh là có căn cứ.

Về hôn nhân: Tại phiên tòa chị A xác định thời gian ly thân đã lâu, không thể hàn gắn chung sống lại được vì mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn. Đối với anh K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án nhưng đến nay không có ý kiến phản bác hay yêu cầu gì đối với nội dung khởi kiện của chị A. Do đó, có cơ sở cho rằng điều kiện đi đến hôn nhân, không đăng ký kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn và thời gian ly thân như chị A trình bày là có cơ sở. Chị A và anh K tổ chức đám cưới, chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1995 cho đến nay không có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền là vi phạm quy định về việc đăng ký kết hôn. Tại điểm b khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 của Quốc hội quy định: "Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03 tháng 01 năm 1987 đến ngày 01 tháng 01 năm 2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 01 tháng 01 năm 2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Toà án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng"; tại khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Trong trường hợp không đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này...".. Như vậy, chị A và anh K kết hôn chung sống năm 1995 cho đến nay không đi đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không xem xét yêu cầu ly hôn của chị A, mà cần tuyên bố quan hệ hôn nhân giữa chị A và anh K không được pháp luật công nhận là vợ chồng là có căn cứ.

Về con chung: Quá trình chung sống chị A và anh K có một con chung tên Phạm Ngọc T, sinh năm 2002 nhưng không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

-2-

Về tài sản chung anh chị không đặt ra yêu cầu phân chia và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét, giải quyết là phù hợp.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị A phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa chị Nguyễn Thị A và anh Phạm Chí K là vợ chồng.

- Về con chung: Có một con chung tên Phạm Ngọc T, sinh năm 2002. Chị A và anh K không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết việc nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản: Chị A và anh K không đặt ra yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.

- Án phí hôn nhân gia đình Nguyễn Thị A phải chịu 300.000 đồng, chị dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0008183 ngày 22/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời nay được chuyển thu, chị A đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ