- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đăng H - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 41 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 194 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH ------------------ Bản án số: 176/2017/HSST Ngày: 17/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Quảng;
2. Ông Đinh Quốc Vương.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Đỗ Thu Hà - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên toà: Ông Đào Thế Phong - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Trong ngày 17/11/2017 tại Hội trường xét xử số 2 – Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 153/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Đăng H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 12/3/1964, tại Quảng Yên, Quảng Ninh; Nơi ĐKNKTT, chỗ ở: Tổ 71, khu A, phường C, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Đăng K – Đã chết; Con bà: Vũ Thị A - Sinh năm: 1940; Vợ: Phạm Thị D – Sinh năm: 1968; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 12/6/2017, hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh – Có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY
Bị cáo Nguyễn Đăng H bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 16 giờ ngày 09/6/2017, tại khu 7, phường C, thành phố Cẩm Phả, Nguyễn Đăng H có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy đá với giá 400.000 đồng cho Lê Thị Y để Y sử dụng. Y đã sử dụng hết. Tiếp đến, hồi 13 giờ 25 phút ngày 12/6/2017, tại khu vực trên, Nguyễn Đăng H tiếp tục bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị Y và Phạm Quang M, với giá 500.000 đồng, để Y và M sử dụng, thì bị Công an bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Nguyễn Đăng H 1.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, thu giữ của Lê Thị Y 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu TK One, 100.000 đồng.
Ngoài ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Cẩm Phả tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Đăng H tại tổ 71, khu A, phường C, thành phố Cẩm Phả, thu giữ 01 hộp sắt bên trong có 02 đoạn ống hút nhựa và 01 đoạn ống kim loại, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 bật lửa, 01 ví giả da bên trong có 1.910.000 đồng, 01 chứng minh thư nhân dân và 01 giấy phép lái xe mô tô đều mang tên Nguyễn Đăng H. Thu giữ trong vỏ gối tại phòng ngủ 01 túi nilon chứa 01 ống hút nhựa và 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 chai nhựa có nắp chai nhựa có 02 lỗ gắn ống hút nhựa, 01 nắp chai nhựa màu trắng có 02 lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa.
Tại bản kết luận giám định số 391, 392 ngày 14/6/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh kết luận: Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Lê Thị Y là chất ma túy; Loại: Methamphetamine; Trọng lượng 0,24gam (không phẩy hai bốn gam). Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon thu giữ của Nguyễn Đăng H là chất ma túy; Loại: Methamphetamine; Trọng lượng: 0,45gam (không phẩy bốn năm gam).
Tại bản cáo trạng số: 159/KSĐT - HS ngày 01/10/2017 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo Nguyễn Đăng H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 194 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tiếp tục đưa ra các chứng cứ chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Đăng H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” như nội dung bản cáo trạng, đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 điều 194, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H từ 07 (bảy) năm đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, và xử lý vật chứng.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đăng H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: H sử dụng ma túy đá từ cuối năm 2014. H đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị Y, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 09/6/2017, H đi đến khu vực hồ Baza, phường C mua, 01 túi ma túy đá giá 500.000 của 01 người thanh niên tên A (không rõ lai lịch, điạ chỉ) để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 16 giờ, cùng ngày, thì Y điện thoại cho H, hỏi mua 400.000 đồng ma túy đá để sử dụng, H đồng ý và hẹn Y đến khu vực gần nhà H để giao dịch. Tại đây, H bán cho Y 01 túi ma túy đá giá 400.000 đồng, Y đưa trước cho H 200.000 đồng và nợ H 200.000 đồng, hẹn lần sau mua ma túy thì sẽ trả. Sau đó, Y cầm ma túy về nhà sử dụng hết.
Lần thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 11/6/2017, H tiếp tục đi đến khu vực hồ Baza, phường C, mua 01 túi ma túy đá giá 800.000 đồng của 01 người thanh niên tên A (không rõ lai lịch, địa chỉ) để sử dụng và bán kiếm lời. Đến khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 12/6/2017, Y gọi điện thoại cho H hỏi mua nửa gam ma túy đá giá 600.000 đồng và bảo sẽ trả 200.000 đồng tiền mua nợ ma túy ngày 09/6/2017, H đồng ý và hẹn Y đến khu vực gần nhà H để giao dịch. Sau đó, H lấy túi ma túy đá vừa mua chia thành 02 túi nhỏ rồi giấu 01 túi vào trong vỏ gối để trong phòng ngủ, mục đích để sử dụng còn 01 túi để bán cho Y. Khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, H đi đến chỗ hẹn, thì gặp Y và Phạm Quang M. H bán cho Y 01 túi ma túy đá. Y đưa cho H 800.000 đồng (trong đó có 200.000 đồng Y nợ tiền mua ma túy của H), H chỉ cầm 700.000 đồng và đưa lại Y 100.000 đồng thì, bị Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa về hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Thị Y vào các ngày 09/6/2017 và 12/6/2017 phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của các nhân chứng chị Lê Thị Y, anh Phạm Quang M. Ngoài ra, Lê Thị Y còn khai ngày 07/6/2017, Y đã mua của H 01 túi ma túy đá giá 600.000 đồng để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tổ chức đối chất Lê Thị Y với Nguyễn Đăng H, nhưng H không thừa nhận bán ma túy cho Y ngày 07/6/2017. Phạm Quang M có lời khai đã nhiều lần mua ma túy của H để sử dụng, lần gần nhất là ngày 06/6/2017, M mua 01 túi ma túy đá của H với giá 300.000 đồng. Tuy nhiên, H không thừa nhận đã bán ma túy cho M.
Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, vật chứng thu giữ. Cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Đăng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 194 - Bộ luật hình sự.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự quản lý của nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an ở địa phương, bị cáo là người có hiểu biết về pháp luật và tác hại của ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém dẫn bị cáo vào con đường phạm tội, hành vi bị cáo thực hiện đã tiếp tay cho các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý, là cầu nối làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác, nên cần phải xử lý nghiêm. Tuy nhiên cũng xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm p khoản 1 điều 46 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo qui định tại Khoản 5 Điều 194 Bộ luật hình sự thì còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập nên không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 02 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 391/GĐMT, 392/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy; 01 hộp sắt nhỏ, màu xanh, đã cũ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng, đã cũ; 01 đoạn ống kim loại nhỏ, đã cũ; 01 bật lửa màu vàng, đã cũ; 01 ví giả da màu đen, đã cũ; 01 túi ni lon nhỏ, kích thước (3x3)cm, đã cũ; 01 đoạn ống hút màu đen, dài 5,5cm,đã cũ;01 chai nhựa có nắp chai đục hai lỗ gắn một ống hút nhựa màu trắng, đã cũ; nắp chai nhựa màu trắng có 02 (hai) lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, đã cũ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; Số tiền 800.000đ là tiền bị cáo bán ma túy cho Y cần tịch thu sung công quỹ nhà nước; Số tiền 200.000đ là tiền bị cáo bán ma túy cho Y đã chi tiêu cá nhân hết cần truy thu sung công quỹ nhà nước; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, Model: 1230, số IMEI 1: 358230000196700, số IMEI 2: 35820000196718, kèm 01 sim, 01 pin bị cáo sử dụng để liên lạc bán ma túy cần tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước; Số tiền 2.210.000đ là tiền của bị cáo; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu ghi, không kiểm tra được Model, số IMEI, kèm 01 sim; 01 giấy chứng minh nhân dân số 100261096 do Công an tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 06/8/2002; 01 giấy phép lái xe số 220116000118, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 09/4/2013 đều mang tên Nguyễn Đăng H là giấy tờ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội cần trả lại.
Đối tượng có tên A bán ma túy cho Nguyễn Đăng H, hiện không rõ lai lịch, địa chỉ nên không đủ cơ sở để điều tra làm rõ.
Đối với Nguyễn Đăng H có hành vi tàng trữ trái phép 0,45gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng và Lê Thị Y có hành vi mua ma túy để sử dụng, nhưng chưa đến mức xử lý hình sự, Công an thành phố Cẩm Phả đã ra Quyết định xử phạt hành chính.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đăng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 194; Điểm p Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đăng H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 12/6/2017.
Áp dụng: Điểm a, c Khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự. Điểm a, c, đ khoản 2 điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 02 phong bì còn nguyên dấu niêm phong số 391/GĐMT, 392/GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, bên trong chứa mẫu vật hoàn trả sau giám định.
Tịch thu tiêu hủy 01 hộp sắt nhỏ, màu xanh, đã cũ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng, đã cũ; 01 đoạn ống kim loại nhỏ, đã cũ; 01 bật lửa màu vàng, đã cũ; 01 ví giả da màu đen, đã cũ; 01 túi ni lon nhỏ, kích thước (3x3)cm, đã cũ; 01 đoạn ống hút màu đen, dài 5,5cm,đã cũ;01 chai nhựa có nắp chai đục hai lỗ gắn một ống hút nhựa màu trắng, đã cũ; nắp chai nhựa màu trắng có 02 (hai) lỗ gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, đã cũ.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 800.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen, Model: 1230, số IMEI 1: 358230000196700, số IMEI 2: 35820000196718, kèm 01 sim, 01 pin.
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 200.000đ sung công quỹ nhà nước.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đăng H số tiền 2.210.000đ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu ghi, không kiểm tra được Model, số IMEI, kèm 01 sim; 01 giấy chứng minh nhân dân số 100261096 mang tên Nguyễn Đăng H do Công an tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 06/8/2002; 01 giấy phép lái xe số 220116000118 mang tên Nguyễn Đăng H, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Quảng Ninh cấp ngày 09/4/2013 (theo biên bản giao vật chứng số 15 /BB - THA ngày 17 tháng 10 năm 2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả).
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 99; Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Nguyễn Đăng H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Q/Ninh; - VKSND TP Cẩm Phả; - Công an TP Cẩm Phả; - Chi cục THADS TP Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, văn phòng. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Hải |