- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh cháp nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Trúc Th.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2026/HNGĐ - ST Ngày: 21/05/2026 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Lương Thiện
Ông Lê Vinh Toan
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Thùy - Thư ký tòa án nhân dân khu vực 1- Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Trong ngày 21 tháng 05 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 72/2026/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 01 năm 2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2026/QĐXXST – HNGĐ ngày 09 tháng 04 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 248/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 05 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Trúc Th, sinh ngày 10/05/2006.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 04/5/2021; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: 67B/4, khu phố 21, phường Long B, Thành phố Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lê Hoàng Ph, sinh ngày 02/01/2003.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 18/08/2022; Nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH.
Địa chỉ: Tổ 11, khu phố 2, phường Trảng D, Thành phố Đồng Nai.
(Bà Thy, ông Phát vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và bản tự khai nguyên đơn bà Phạm Trúc Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph kết hôn ngày 31/12/2024, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai (nay là UBND phường Trảng Dài, Thành phố Đồng Nai). Hôn nhân giữa bà Thy và ông Lê Hoàng Ph là tự nguyện. Sau khi kết hôn bà Thy và ông Lê Hoàng Ph có về ở chung với nhau tại địa chỉ 67B/4, tổ 14, khu phố 21, phường Long B, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai ( nay là phường Long B, Thành phố Đồng Nai được 07 (bảy) tháng thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, ông Lê Hoàng Ph không lo làm ăn và lo cho vợ con, sau khi cãi nhau ông Lê Hoàng Ph hay bỏ đi tầm 07 - 08 ngày lại về. Ông bà đã ly thân vào khoảng tháng 12 năm 2025, ông Lê Hoàng Ph bỏ về Phường Trảng D ở địa chỉ tổ 11, khu phố 2, phường Trảng D, Thành phố Đồng Nai. Từ lúc ly thân tới nay ông Lê Hoàng Ph lâu lâu mới về thăm con. Khi ly hôn bà Phạm Trúc Th có báo cho ông Lê Hoàng Ph biết và ông Lê Hoàng Ph kêu bà tự làm giấy tờ chứ ông Lê Hoàng Ph không lên Tòa. Nay nhận thấy cuộc sống gia đình không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được và không còn khả năng hàn gắn nên bà Phạm Trúc Th yêu cầu được ly hôn với ông Lê Hoàng Ph.
* Về con chung: Có 01 (một) con chung Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024. Khi ly hôn bà Phạm Trúc Th xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Kiệt đến khi đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng, tạm thời không yêu cầu ông Lê Hoàng Ph phải cấp dưỡng nuôi con.
* Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Về án phí: Bà Phạm Trúc Th xin tự nguyện chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông Lê Hoàng Ph nhưng ông Lê Hoàng Ph không gửi cho Tòa án ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Trúc Th và cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ. Tòa án đã nhiều lần tống đạt thông báo, giấy triệu tập mời ông Lê Hoàng Ph đến Tòa án để lấy lời khai đối chất; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông Lê Hoàng Ph không đến Tòa án làm việc.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật về tố tụng, bảo đảm sự vô tư, khách quan trong việc giải quyết vụ án. Về nội dung tranh chấp: Cuộc sống hôn nhân của bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph không có hạnh phúc, không ai còn quan tâm đến ai. Do mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Trúc Th. Bà Phạm Trúc Th khai có 01 (một) con chung là Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Phạm Trúc Th xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời không yêu cầu ông Lê Hoàng Ph phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Hoàng Ph không đến Tòa và cũng không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024 cho bà Phạm Trúc Th được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm thời ông Lê Hoàng Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà Phạm Trúc Th khai tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Lê Hoàng Ph cũng không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên đề nghị Hội đồng xét xử Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật nên được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Lê Hoàng Ph hiện đang sinh sống tại phường Trảng Dài, Thành phố Đồng Nai nên đơn xin ly hôn của bà Phạm Trúc Th thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai. Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai đã thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Lê Hoàng Ph “Thông báo thụ lý vụ án”,“Giấy triệu tập”, “Thông báo thu thập được chứng cứ”, “Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai tiếp cận chứng cứ và hòa giải” nhưng ông Lê Hoàng Ph vẫn không đến Tòa án làm việc. Do ông Lê Hoàng Ph đã được thông báo nhiều lần nhưng vẫn không đến tham gia phiên họp và hòa giải nên Tòa án đã lập biên bản ghi nhận việc không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được, quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa do vắng mặt ông Lê Hoàng Ph cũng đã được tiến hành tống đạt theo đúng quy định của pháp luật. Như vậy, ông Lê Hoàng Ph đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Lê Hoàng Ph vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Lê Hoàng Ph theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bà Phạm Trúc Th là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về nội dung tranh chấp: Bà Phạm Trúc Th yêu cầu ly hôn với ông Lê Hoàng Ph. Về con chung bà Phạm Trúc Th khai có 01 (một) con chung là cháu Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024, hiện nay con đang sống cùng bà. Ly hôn bà Phạm Trúc Th xin được trực tiếp nuôi con. Tạm thời không yêu cầu ông Lê Hoàng Phphải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung bà Phạm Trúc Th khai tài sản chung không có và bà Phạm Trúc Th cam kết hai vợ chồng không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Các nội dung này đã được Tòa án ghi rõ trong các Thông báo mà ông Lê Hoàng Ph đã được niêm yết hợp lệ nhưng ông Lê Hoàng Ph không có ý kiến phản đối, không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án nên Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.
Về quan hệ hôn nhân: Trên cơ sở lời khai, lời trình bày của bà Phạm Trúc Th và kết quả xác minh tại địa phương thì thấy ông Lê Hoàng Ph và bà Phạm Trúc Th cuộc sống chung không có sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Ông Lê Hoàng Ph và bà Phạm Trúc Th đã sống riêng, đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Trên thực tế, bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph không ai còn quan tâm đến ai. Tòa án đã nhiều lần tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Lê Hoàng Ph để tiến hành hòa giải nhưng ông Lê Hoàng Ph không đến, cho thấy ông Lê Hoàng Ph không có thiện chí đoàn tụ với bà Phạm Trúc Th. Do vậy yêu cầu của bà Phạm Trúc Th về việc xin ly hôn với ông Lê Hoàng Ph là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Bà Phạm Trúc Th khai có 01 (một) con chung là cháu Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024 và hiện nay đang sống cùng bà Phạm Trúc Th. Ly hôn bà Phạm Trúc Th xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời không yêu cầu ông Lê Hoàng Ph phải cấp dưỡng nuôi con. Ông Lê Hoàng Ph đã được Tòa án thông báo và triệu tập nhiều lần nhưng ông Lê Hoàng Ph vẫn không đến Tòa làm việc và cũng không có ý kiến về vấn đề nuôi con chung và cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024 cho bà Phạm Trúc Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con do bà Phạm Trúc Th không yêu cầu nên ông Lê Hoàng Ph tạm thời không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Bà Phạm Trúc Th khai không có và ông Lê Hoàng Ph không có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung của bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph trong vụ án này.
Về nợ chung: Bà Phạm Trúc Th khai không có nợ chung và ông Lê Hoàng Ph không có ý kiến nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Phạm Trúc Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn được quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Áp dụng khoản 2 Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 119 và Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Trúc Th. Bà Phạm Trúc Th được ly hôn với ông Lê Hoàng Ph.
2. Về con chung: Có 01 (một) con chung là cháu Lê Hoàng Gia K, sinh ngày 07/01/2024. Giao cháu K cho bà Phạm Trúc Th trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời ông Lê Hoàng Ph không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Lê Hoàng Ph được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các đương sự được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Bà Phạm Trúc Th khai không có và ông Lê Hoàng Phkhông có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về tài sản chung trong vụ án này.
4. Về nợ chung: Bà Phạm Trúc Th khai không có và ông Lê Hoàng Phkhông có ý kiến nên Tòa án không giải quyết về nợ chung của bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Phtrong vụ án này.
5. Về án phí: Bà Phạm Trúc Th phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn. Số tiền này được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà Phạm Trúc Th đã nộp theo biên lai thu số: 0012043 ngày 22/12/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự Thành phố Đồng Nai) Bà Phạm Trúc Th đã nộp đủ án phí.
Bà Phạm Trúc Th và ông Lê Hoàng Ph có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: -TAND TP. Đồng Nai; -VKSND khu vực 1- Đồng Nai; -VKSND TP. Đồng Nai; -Các đương sự; -Thi hành án dân sự TP. Đồng Nai;; -Lưu hồ sơ, Vp; - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Lê Hồng Ngọc |