- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Ban an HNGD giua chi Nguyen Thi N va anh Nguyen Xuan T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/09/2025 V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thông.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Chiến
Bà Lê Thị Minh Khánh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh: Bà Ngô Thị Vân Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2025/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXX-ST ngày 22/07/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 91/2025/QĐST-HNGĐ ngày 22/08/2025 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 19/9/1987 (vắng mặt)
Nơi cư trú: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh.
Chị N ủy quyền cho anh Nguyễn Văn H, sinh năm 2002; Nơi cư trú: thôn B, xã V, tỉnh Thanh Hóa giao nhận các văn bản tố tụng với Tòa án.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T, sinh ngày 14/8/1984 (vắng mặt)
Nơi cư trú và địa chỉ cư trú cuối cùng tại Việt Nam: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Hiện lao động tại nước ngoài, không rõ địa chỉ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:
Về hôn nhân: chị và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Sau kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận. Năm 2019 vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, tranh cãi. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuộc sống. Trong thời gian mâu thuẫn hai vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn hàn gắn tình cảm nhưng không được. Đầu năm 2020 anh T đi lao động tại Đài Loan. Do mâu thuẫn từ trước nên sang Đài Loan vợ chồng không liên lạc với nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
Về con chung: Chị và anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 12/11/2015 hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị. Sau ly hôn chị đề nghị giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu P cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Do anh T đang lao động tại nước ngoài nên đề nghị tạm giao cháu N cho chị nuôi dưỡng cho đến khi anh T về nước sinh sống.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh Nguyễn Xuân T là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
Tại biên bản lấy lời khai với gia đình anh T, ông Nguyễn Xuân Q là bố anh Nguyễn Xuân T cho biết.
Về hôn nhân của anh T, chị N gia đình cho biết: Anh, chị được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, hỏi theo phong tục địa phương và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Sau khi kết hôn chị N, anh T cùng sinh sống tại Bắc Giang (nay là Bắc Ninh). Do điều kiện kinh tế khó khăn nên năm 2018 anh T đi lao động tại Đài Loan, sau đó vài năm chị N cũng sang Đài Loan lao động. Sang Đài Loan anh, chị vẫn hòa thuận nhưng đến năm 2024 chị N về nước sinh sống thì thấy anh T nói chị N viện nhiều lý do để gây mâu thuẫn vợ chồng. Trước đó anh, chị không có mâu thuẫn gì. Theo anh T trình bày anh và chị N vẫn liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo nhưng chị N không nghe. Gia đình đề nghị Tòa án tạm dừng xem xét đơn xin ly hôn của chị N để hai bên gia đình hòa giải cho anh, chị về với nhau.
Về con chung: anh T, chị N có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 12/11/2015. Hai cháu hiện đang sinh sống cùng chị N.
Ngoài ra gia đình cho biết: Trước khi đi lao động tại Đài Loan anh T sinh sống cùng gia đình tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Sau khi sang Đài Loan anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình. Gia đình đã thông báo cho anh T biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị N và anh T.
Cháu Nguyễn Bảo N, Nguyễn Hà P trình bày: Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng mẹ tại thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Nếu bố mẹ ly hôn cháu N muốn sinh sống cùng bố, cháu P muốn sinh sống cùng mẹ.
Tại phiên tòa, chị N vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của chị N; Biên bản làm việc với ông Q là bố anh T và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với bị đơn. Căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271; Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N; xử:
Về hôn nhân: chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
Về con chung: Giao cháu N, cháu P cho chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con chung, tài sản chung, công nợ chung: Do chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
. Về quan hệ tranh chấp: Chị N khởi kiện xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Vì vậy, đây là vụ án “ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Tại Công văn số 65/QLXNC ngày 07/7/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh – Công an tỉnh Bắc Ninh cung cấp, anh T xuất cảnh ngày 22/8/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, anh T được xác định là đang ở nước ngoài. Mặt khác, anh T là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Ninh. Vì vậy, đây là vụ án có một bên đương sự ở nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về sự vắng mặt đương sự:
Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Về sự vắng mặt của bị đơn: Căn cứ lời khai của nguyên đơn và ông Nguyễn Xuân Q (bố anh T) Tòa án xác định được nơi cư trú cuối cùng trước khi xuất cảnh của anh T ở Việt Nam là: thôn T, xã N, tỉnh Bắc Ninh. Tòa án đã tiến hành giao thông báo thụ lý vụ án cho anh T thông qua gia đình và đề nghị gia đình thông báo cho anh T biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đang thụ lý giải quyết vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân T. Gia đình anh T cho biết anh T vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng anh T không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của anh T tại Đài Loan. Nhận thấy, đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Điều 10 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 07/3/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (nay là phường P, tỉnh Phú Thọ). Do đó, đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chị đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn chị N, anh T chung sống hòa thuận. Tuy nhiên sau một thời gian chung sống chị N xác định vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nên sau khi anh T đi lao động tại Đài Loan năm 2018 vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Anh T thông qua gia đình cho biết vợ chồng có mâu thuẫn nhưng anh không đồng ý ly hôn. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định anh T, chị N không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N với anh T là phù hợp với tình trạng hôn nhân thực tế, phù hợp Điều 51, Điều 53 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cũng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
. Về nuôi con chung: chị N, anh T có 02 con chung là cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 12/11/2015. Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng chị N. Sau ly hôn chị N đề nghị giao cháu P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu N cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cháu N cho chị N nuôi dưỡng cho đến khi anh T về nước sinh sống.
Xét yêu cầu giao nuôi dưỡng con chung sau ly hôn của chị N, Hội đồng xét xử thấy: Anh T hiện đang lao động tại nước ngoài nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Các con chung từ khi sinh ra đến nay vẫn sinh sống ổn định cùng chị N. Mặc dù cháu N trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với bố. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ giao cháu N, Phương cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn là phù hợp điều kiện thực tế, đảm bảo quyền vào lợi ích mọi mặt của con chung cũng như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Trường hợp anh Nguyễn Xuân T có nguyện vọng thay đổi người trực tiếp nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.
. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
. Về tài sản, công nợ chung: Không có nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ Luật Tố tụng dân sự; và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
. Về quyền kháng cáo:
Theo Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự, chị N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có mặt tại Việt Nam thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Theo Điều 271, khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự, anh T đang lao động tại nước ngoài không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N.
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Xuân T.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bảo N, sinh ngày 31/10/2011 và cháu Nguyễn Hà P, sinh ngày 12/11/2015 cho chị Nguyễn Thị N là người trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật
Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005685 ngày 18/4/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh). Xác nhận chị Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo bản án:
Chị Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Nguyễn Xuân T có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - THADS tỉnh Bắc Ninh; - UBND phường P, tỉnh Phú Thọ; - Cổng thông tin điện tử; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trung Thông |