- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị K-Lê Chí T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Đặng Thị K và ông Lê Chí T được ly hôn.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2024/HNGĐ-ST Ngày 30-12-2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hồ Lệ Hoa
Bà Lê Thị Duyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hồng Như là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 30 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 298/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị K, sinh năm 1987 (có yêu cầu xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
-Bị đơn: Ông Lê Chí T, sinh năm 1986 (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Ấp X, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 28/10/2024 bà Đặng Thị Kiểm trình bày:
Bà K và ông T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào ngày 27/02/2007. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm với nhau trong lối sống, tính cách không hòa hợp nên thường xuyên cự cải, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên ông bà ly thân từ ngày 30/10/2016 đến nay. Vì vậy, bà K yêu cầu ly hôn với ông T.
Thời gian chung sống bà K và ông T có con chung tên Lê Quốc S, sinh ngày 08/11/2008. Hiện con chung do bà K nuôi dạy. Khi ly hôn bà K yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung nhưng bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung không có nên bà K không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Bà Đặng Thị K khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Chí T. Do ông bà chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; Ông Lê Chí T có địa chỉ cư trú tại ấp X, xã H, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà K thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T nhưng ông T không có văn bản ý kiến về yêu cầu của bà K và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bà K có yêu cầu xin vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà K theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tôt tụng dân sự.
Về hôn nhân: Bà K và ông T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau vào ngày 27/02/2007. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Thời gian chung sống ông bà phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên bà K yêu cầu ly hôn với ông T. Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tổ chức hòa giải để ông bà có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do ông bà đã ly thân với khoản thời gian dài và ông T vắng mặt tại phiên hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho bà Đặng Thị K và ông Lê Chí T được ly hôn.
Thời gian chung sống ông bà có một con chung tên Lê Quốc S, sinh ngày 08/11/2008 (giới tính nam). Xét thấy, bà K yêu cầu tiếp tục nuôi dạy con chung là có căn cứ. Bởi vì, con chung hiện do bà K nuôi dạy nên việc hoán đổi người trực tiếp nuôi con sẽ ảnh hưởng đến tình cảm con chung. Hơn nữa tại bản tự khai ngày 20/11/2024 cháu S có nguyện vọng được sống chung với bà K. Vì vậy cần tiếp tục giao con chung cho bà K nuôi dạy là phù hợp.
Bà K không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà K xác định thời gian chung sống ông bà không có tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà K phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Bà Đặng Thị K và ông Lê Chí T được ly hôn.
2.Về con chung: Ông Lê Chí T có nghĩa vụ tiếp tục giao con chung tên Lê Quốc S, sinh ngày 08/11/2008 (giới tính nam) cho bà Đặng Thị K tiếp tục nuôi dạy. Ông Lê Chí T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Ông T không trực tiếp nuôi dạy con chung nhưng ông có quyền thăm nom con chung phù hợp với quy định pháp luật, không ai có quyền cản trở.
3.Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị K phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 28 tháng 10 năm 2024 bà K có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0016564 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Hồ Lệ Hoa – Lê Thị Duyên | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Kiều Trang |