vanban.org

Bản án 175/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm R đối với anh Trần Thanh X.

Chị Trương Thị Cẩm R được ly hôn với anh Trần Thanh X. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Giữa chị Trương Thị Cẩm R với anh Trần Thanh X"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm R đối với anh Trần Thanh X.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN GIỒNG TRÔM
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-12-2024
V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

2. Bà Phạm Thị Thu Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bình Nguyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 469/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024 về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 417/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 386/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/12/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trương Thị Cẩm R, sinh năm 1995

Địa chỉ: Ấp M, xã P, huyện G, tỉnh Bến Tre

Bị đơn: Anh Trần Thanh X, sinh năm 1988

Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre

Chị R có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Anh X vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn chị Trương Thị Cẩm R có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nhưng theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị trình bày:

Chị và anh Trần Thanh X kết hôn vào năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/11/2018. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Đến tháng 5/2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, anh X ham chơi cờ bạc nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh X.

Về con chung: Chị và anh X có 01 con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 19/01/2021, hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K, chị không yêu cầu anh X cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.

Bị đơn anh Trần Thanh X vắng mặt nhưng theo bản khai anh trình bày:

Anh và chị Trương Thị Cẩm R chung sống với nhau vào năm 2019, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến năm 2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân do anh làm ăn thất bại, không có tiếng nói chung nên vợ chồng không còn chung sống với nhau 03 tháng nay. Anh còn thương vợ, thương con, mong muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm nên anh không đồng ý ly hôn. Nếu chị R vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn thì anh đồng ý và giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày 19/01/2021 cho chị R nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trương Thị Cẩm R về việc ly hôn với anh Trần Thanh X. Về con chung: Giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày 19/01/2021 cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận chị R không yêu cầu anh X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Trương Thị Cẩm R yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Trần Thanh X, cư trú tại ấp P, xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre là vụ án hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Trần Thanh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại tòa không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án vắng mặt anh X là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị R và anh X kết hôn và năm 2018, trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện G, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 12/11/2018 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo đó chị R cho rằng, sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu. Đến tháng 5/2024, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không có tiếng nói chung, anh X ham chơi cờ bạc nên đã sống ly thân từ đó đến nay. Do xác định tình cảm vợ chồng không còn hàn gắn được nữa nên chị yêu cầu được ly hôn với anh X. Còn anh X cho rằng anh còn thương vợ, thương con, muốn vợ chồng hàn gắn tình cảm nên không đồng ý ly hôn. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành hòa giải để chị R, anh X đoàn tụ nhưng anh X không đến tham dự các phiên hòa giải. Chị R kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh X, đã chứng tỏ chị không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hơn nữa, chị R và anh X không còn chung sống với nhau, mỗi người có một cuộc sống riêng. Mặc khác, tại bản khai anh X thừa nhận vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nếu chị R kiên quyết ly hôn thì anh đồng ý ly hôn. Như vậy, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa chị R và anh X đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, quan tâm chăm sóc lẫn nhau, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị R đối với anh X là phù hợp.

Về con chung: Chị R và anh X có 01 con chung là cháu Trần Đăng K, sinh ngày 19/01/2021. Chị R yêu cầu được nuôi dưỡng cháu K. Xét thấy, cháu K hiện đang sinh sống ổn định với chị R. Khi ly hôn anh X cũng đồng ý để chị R được tiếp tục nuôi dưỡng cháu K. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu K, tránh làm xáo trộn cuộc sống hiện nay của cháu, cần giao cháu K cho chị R tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị R tự nguyện không yêu cầu anh X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị R và anh X khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí hôn nhân, gia đình sơ thẩm: Chị R phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị đã nộp.

Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Các Điều 147, 273, 278 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Cẩm R đối với anh Trần Thanh X.

Chị Trương Thị Cẩm R được ly hôn với anh Trần Thanh X.

2. Về con chung:

Giao cháu Trần Đăng K, sinh ngày 19/01/2021 cho chị Trương Thị Cẩm R được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu K đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận việc chị Trương Thị Cẩm R tự nguyện không yêu cầu anh Trần Thanh X có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Anh Trần Thanh X được quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc của cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Trương Thị Cẩm R, anh Trần Thanh X khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Trương Thị Cẩm R phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí Tòa án số: 0004276 ngày 18/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Bến Tre.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được thông báo, niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ