vanban.org

Bản án 175/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Cầm Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng t . Th i hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 10/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "CẦM VĂN T -TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2023/HSST
Ngày 24 - 08 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Vàng A Nếnh

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Thanh Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 08 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 182/2023/HSST ngày 10 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 180/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Cầm Văn T, sinh năm 1993, tại huyện Sông M, tỉnh Sơn La;

Nơi cư trú: Bản Chiềng C, xã Chiềng C, huyện Sông M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Cầm Văn Th (đã chết) và bà Cầm Thị Ch; bị cáo có vợ là Cà Thị L (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/05/2023 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 01 gi ngày 10/5/2023 t công tác Công an xã Chiềng C làm nhiệm vụ tại bản Anh Trung, xã Chiềng C, huyện Sông Mã phát hiện Cầm Văn T, sinh năm 1993 trú tại bản Chiềng C, xã Chiềng C, huyện Sông Mã có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật. T công tác đã yêu cầu kiểm tra đối với T, T đã lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra giao nộp cho t công tác một gói nilon màu trắng bên trong ch a một viên nén màu hồng (T khai nhận là Hồng phiến) mục đích cất giấu sử dụng. T công tác đã lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật ch ng.

Ngày 10/5/2023 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật ch ng và trích mẫu giám định, kết quả: một viên nén màu hồng có khối lượng 0,103 gam, trích hết làm mẫu giám định ký hiệu T.

Kết luận giám định số 993/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Ph ng K thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: M u ký hi u T g i giám đ nh là ma túy; Loại Methamphetamine; kh i l ng của m u g i giám đ nh là 0,103gam. T ng kh i l ng ma túy thu gi là 0,103gam, loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị cáo Cầm Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 10 gi ngày 09/5/2023 T đi bộ từ nhà ở bản Chiềng C, xã Chiềng C ra quốc lộ 4G bắt xe bus lên xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã mục đích tìm mua ma túy sử dụng, khi đi T mang theo số tiền 40.000 đồng và 01 bơm kim tiêm. Đến ngã ba bản Lướt, T xuống xe rồi đi bộ đến bản Bướm , vào lán nương của một ngư i đàn ông dân tộc Mông tên là Lầu, khoảng 50 tu i, qua tr chuyện T h i mua 20.000 đồng Hồng phiến được Lầu đồng ý nhận tiền rồi lấy từ túi áo trước ngực đang mặc ra bán cho T 02 viên Hồng phiến được gói b ng mảnh nilon màu trắng. Mua được ma túy, T lấy 01 viên Hồng phiến ra sử dụng b ng hình th c tiêm chích qua đư ng t nh mạch, sử dụng xong T gói viên Hồng phiến c n lại như ban đầu rồi cất vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc, sau đó ở lại chơi tại bản Bướm đến 1 gi c ng ngày thì đi bộ về nhà. Đến 01 gi ngày 10/5/2023 T đi bộ về đến bản Anh Trung, xã Chiềng C, huyện Sông Mã thì bị t công tác Công an xã Chiềng C làm nhiệm vụ phát hiện bắt quả tang thu giữ và niêm phong vật ch ng.

Cáo trạng số 133/CT-VKSSM ngày 10 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo: Cầm Văn T về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a, bị cáo Cầm Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên t a, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 3 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Cầm Văn T từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng không áp dụng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Vật ch ng của vụ án: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu để tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong vật ch ng ban đầu đã bóc mở

Về án phí: Đề nghị miễn án phí cho bị cáo, do bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở v ng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Bị cáo Cầm Văn T không có ý kiến gì đối đáp với l i luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn c vào các ch ng c và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên t a, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện ch ng c , ý kiến của Kiểm sát viên, l i khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn c vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về căn c ch ng minh hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Cầm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. L i khai của bị cáo tại phiên toà ph hợp với l i khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang; Vật ch ng của vụ án là ma túy, loại Methamphetamine; Kết luận giám định và ph hợp với các tài liệu, ch ng c khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 10/5/2023 bị cáo Cầm Văn T đã có hành vi tàng trữ 0,103 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên l i khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đ i, b sung thêm nội dung gì làm thay đ i nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên t a là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng tr trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là có căn c , đúng ngư i, đúng pháp luật.

Từ những căn c nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Cầm Văn T thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt t từ một năm đến năm năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Để trừng trị đối với ngư i đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh ph ng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra kh i đ i sống xã hội trong một th i gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt b sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các tình tiết, đối tượng có liên quan:

Số ma túy thu giữ trong vụ án, bị cáo Cầm Văn T khai mua được của một ngư i đàn ông dân tộc Mông tên Lầu ở khu vực bản Bướm , xã Chiềng Khoong, huyện Sông Mã. Quá trình điều tra, do bị cáo khai không biết họ, tu i cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã đã làm việc c ng chính quyền bản và Công an xã Chiềng Khoong rà soát trên dữ liệu dân cư tại bản Bướm . Kết quả không có ai tên Lầu như mô tả của bị cáo nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã không có căn c để mở rộng điều tra là có căn c cần chấp nhận.

Về vật ch ng của vụ án: Vật ch ng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong vật ch ng ban đầu đã bóc mở là vật không có giá trị sử dụng, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo là ngư i dân tộc thiểu số, sống ở v ng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn c vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Cầm Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Xử phạt bị cáo Cầm Văn T 01 (một) năm 02 (hai) tháng t . Th i hạn chấp hành hình phạt t tính từ ngày 10/5/2023.

- Không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật ch ng: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu huỷ: 01 mảnh nilon màu trắng; 01 v phong bì thư niêm phong vật ch ng ban đầu đã bóc mở theo biên bản về việc giao nhận vật ch ng, tài sản lập hồi 09 gi 15 phút ngày 10 tháng 8 năm 2023 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Áp dung điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thư ng Vụ Quốc hội. Bị cáo Cầm Văn T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2023).

Cỡ chữ