- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Trần Văn N phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2023/HS-ST Ngày: 29-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Bảo
2. Bà Nguyễn Thị Thủy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên L- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 163/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2023/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn N, sinh năm 1997 tại Bà Rịa - Vũng Tàu; HKTT: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1973 và bà Bùi Thị L1, sinh năm 1976; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28-6-2023, chuyển sang tạm giam từ ngày 07-7-2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L, có mặt.
- Người làm chứng:
+ Ngô Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt)
+ Nguyễn Hồng P, sinh năm 1998; địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn N là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine). Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 27-6-2023, trong quá trình là việc tại bãi neo đậu ghe thuộc khu vực xóm N xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, N gặp một người đàn ông tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) mua 01 gói ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N cất giấu gói ma túy vào trong ví da màu đen bỏ trong túi quần phía trước bên phải N đang mặc. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, N cùng Ngô Văn T về phòng trọ của T thuê thuộc tổ A, ấp P, xã P, huyện L thì gặp Nguyễn Hồng P đang ở phòng trọ của T nên cả ba ngồi nói chuyện và chơi game tại phòng trọ. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, lực lượng Công an xã P, huyện L kiểm tra hành chính nhà của T, phát hiện N có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy trong túi quần phía trước bên phải của N đang mặc nên tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với N. Tại Cơ quan Công an, Nguyễn Văn N khai nhận tàng trữ trái phép 01 gói ma túy nêu trên mục đích để sử dụng.
Tại Bản kết luận giám định số 332/KLGĐ-KTHS-MT ngày 06-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an xã P - Công an huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi rõ họ tên: Đại úy Nguyễn Đức Q1, Lê Ngọc S, Nguyễn Văn N. “Nguyễn Hồng P”, Nguyễn Công T2, Đặng Thị N1, Ngô Văn T, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu - trong suốt, gửi đến giám định có khối lượng 0,4025 gam, là ma túy, Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 332 ngày 06/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh B và 01 ví da màu đen. Hiện đã chuyển giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.
Tại bản Cáo trạng số 160/CT-VKSLĐ ngày 06-9-2023, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 14 tháng đến 18 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 332 ngày 06-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành; 01 ví da màu đen là vật không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố và không có ý kiến gì về luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, số lượng ma túy thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 27-6-2023, tại khu vực phòng trọ thuộc tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an xã P, huyện L bắt quả tang Nguyễn Văn N tàng trữ trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,4025 gam, ma túy, loại Methamphetamine mà N cất giấu trong túi quần phía trước bên phải của N đang mặc, mục đích để sử dụng.
Hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện, rất độc hại và hiện nay đang là hiểm họa xã hội, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương và cho sức khỏe của người sử dụng ma túy nhưng vì nhu cầu ích kỷ của bản thân bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 332 ngày 06-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về các vấn đề khác:
Đối với Ngô Văn T và Nguyễn Hồng P không biết, không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn N. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L không xử lý hình sự đối với T và P là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-6-2023.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon hàn kín, bên trong có chứa ma tuý, sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 332 ngày 06-7-2023 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da màu đen đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 150/BB-CCTHADS ngày 06-9-2023 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền)
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (29-9-2023), bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu yêu cầu xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND huyện Long Điền; - Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; - PC10 và PV06 Công an tỉnh BR-VT; - Công an huyện Long Điền; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - Chi Cục THA dân sự huyện Long Điền; - Bị cáo; - Lưu. | THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Phạm Thị Bình |