vanban.org

Bản án 175/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 29/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn A phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn A 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B1, huyện B2, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Văn A - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn A phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2022/HS-ST
Ngày: 29/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG -TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyết, bà Ngô Thị Thời.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Cao Nguyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 193/2022/HSST ngày 30/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2022/HSST-QĐ ngày 15/12/2022, đối với bị cáo:

Dương Văn A, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn B, xã B1 huyện B2, tỉnh Ninh Bình; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do: Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Dương Văn C và bà An Thị C1; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Anh Vũ Đình T, sinh năm 1996 (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

+ Ông Vũ Văn T1, sinh năm 1971.

+ Bà Trần Thị Thu T2, sinh năm 1974.

Đều cư trú tại: Thôn M, xã M1, huyện M2, tỉnh Hải Dương. Người đại diện theo ủy quyền cho bà T2: Ông Vũ Văn T1. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Phạm Đức N, sinh năm 1990; Hiện cư trú tại: Số 60E, phường E1, quận E2, thành phố Hải Phòng. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Dương Văn A có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số 310218024870 do Sở giao thông vận tải thành phố Hải Phòng cấp, có giá trị đến ngày 29/11/2031. Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 14/8/2022, A điều khiển xe ô tô biển số 15A – 607.95 (mượn của anh Phạm Đức N) trên đường tỉnh lộ 391 theo hướng thành phố H đi huyện M2. Khi đến khu vực gần cây xăng L1, A nhớ ra để quên đồ ở công trường thi công đường vành đai 1 ở thôn L, xã L1, thành phố H nên quay lại để lấy. A điều khiển xe ô tô đi chậm lại sát mép đường bên phải theo hướng đi và bật xi nhan trái xin đường. Tại đây, mặt đường trải nhựa tương đối bằng phẳng, rộng 09 mét được phân chia thành hai chiều đường riêng biệt bằng vạch sơn màu vàng nét đứt. Tiếp giáp với hai phía của hiện trường là vỉa hè đường và nhà dân xã L1, thành phố H. A quan sát phía sau qua gương chiếu hậu thấy có ánh đèn xe ô tô đang đi phía sau cùng chiều vượt lên nên nhường đường cho xe ô tô đi qua rồi A quan sát thấy tại phần đường ngược chiều có ánh đèn xe mô tô biển số 34B5-092.82 do anh Vũ Đình T, sinh năm 1996, trú tại: thôn M, xã M1, huyện M2, tỉnh Hải Dương điều khiển hướng huyện M2 - thành phố H đang đi đến, A nghĩ vẫn xử lý kịp nên không nhường đường mà điều khiển xe ô tô rẽ trái sang đường để quay đầu xe, khi xe ô tô do A điều khiển gần vuông góc với mép đường, tâm trục bánh sau xe ô tô cách mép đường phải theo chiều M2 - thành phố H là 3,30m thì xe mô tô do anh T điều khiển đi đến đã va chạm vào phần cánh cửa phía sau bên phải xe ô tô do A điều khiển làm xe mô tô bị đổ, anh T ngã xuống đường bị thương chảy nhiều máu ở vùng đầu, phần chân bị xe mô tô biển số 34B5 - 092.82 đổ nghiêng bên trái đè lên. A xuống xe nhờ người dân đưa anh T đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương đến 23 giờ cùng ngày anh T tử vong. Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Hải Dương đã thu thập 02 tệp video được trích xuất từ Camera giám sát của xe ô tô BKS 15A-607.95 do Dương Văn A điều khiển.

Tại Kết luận giám định pháp y về tử thi số 258/GĐPY ngày 23/8/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Nguyên nhân chết của anh Vũ Đình T do chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ).Tổn thương chính dẫn đến nguyên nhân tử vong của anh Vũ Đình T là: Chấn thương sọ não (vỡ xương vòm sọ), tổn thương này do vật tày gây nên là phù hợp.

Tại Kết luận giám định số 5539 ngày 13/9/2022 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các mẫu cần giám định.

- Tại Biên bản kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với Dương Văn A ngày 14/8/2022 xác định: Kết quả máy đo hiển thị nồng độ cồn trong hơi thở của Dương Văn A là 0,000 mg/l.

- Tại Biên bản xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu đối với Dương Văn A ngày 16/8/2022 xác định: Kết quả trên thanh thử loại Drug Test xuất hiện 02 vạch ở cả 04 cột (âm tính - trong nước tiểu không có chất ma túy).

Khám nghiệm xe ôtô BKS 15A-607.95 do Dương Văn A điều khiển xác định: Tại mặt ngoài cánh cửa phía sau bên phải có vết va chạm biến dạng kim loại, vết có chiều từ ngoài vào trong, từ phải qua trái, điểm tập trung trong diện 100 x 82 cm; điểm lõm sâu nhất so với vị trí ban đầu 8 cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 42 cm; cao nhất 120 cm.Tại mặt ngoài sàn xe phía sau bên phải có vết va chạm trượt xước nhựa điểm tập trung trong diện 22 x 15 cm; điểm thấp nhất cách mặt đất 22 cm; cao nhất 36 cm; sàn để chân gãy chân bắt giữ tuột khỏi vị trí ban đầu; tương ứng vị trí này vào phía bên trong có vết va chạm bẹp lõm kim loại diện 34 x 14 cm; điểm lõm sau nhất so với vị trí ban đầu 6 cm. Kính chắn gió cánh cửa phía sau bên phải vỡ hỏng hoàn toàn, tại khung kim loại phía trên cánh cửa có vết bẹp lõm kim loại theo chiều từ phải qua trái; điểm tập trung trong diện 10 x 7 cm, tại mặt vết còn dính lại nhiều sợi dạng tóc người, điểm thấp nhất cách mặt đất 152 cm, cao nhất 155 cm. Điểm gần nhất cách mép cánh cửa phía trước 15 cm.

Khám nghiệm xe mô tô BKS 34B5 -092.82 do anh Vũ Đình T điều khiển xác định: Vành bánh trước bị đẩy cong gập từ trước về sau, tại mép vành bánh trước bên phải vỡ mất mảnh kim loại điểm tập trung trong diện 20 x 5 cm, điểm gần nhất cách chân van xe ngược chiều kim đồng hồ 37 cm. Mặt lăn của lốp xe tỳ sát thành máy không chuyển động được. Hai càng bánh trước bị đẩy xô lệch theo chiều từ trước về sau. Cụm đèn pha, đèn xin đường phía trước hai bên vỡ hỏng hoàn toàn. Tại mặt trước ốp nhựa dưới cổ xe có vết va chạm xước lớp sơn màu đen, tại mặt vết còn dính lại bột dạng sơn màu đỏ, điểm tập trung trong diện 28 x 30 cm, điểm thấp nhất cách mặt đất 69 cm, cao nhất cách mặt đất 92 cm, vết có chiều từ trước về sau. Yếm chắn gió hai bên nứt vỡ nhựa, bật hở khớp nối.Gương chiếu hậu bên trái vỡ mất mặt gương. Đầu tay phanh phía trước bên trái có vết mài mòn kim loại hình tròn diện 1 x 1 cm. Tại mặt ngoài sàn để chân người điều khiển bên trái có vết mài mòn nhựa diện 2 x 2 cm.

- Về vật chứng: Xe mô tô biển số 34B5 – 092.82 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Đình T. Xe ô tô biển số 15A – 607.95 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Đức N, 02 xe bị hư hỏng nhẹ anh N và gia đình anh T không yêu định giá thiệt hại tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô và xe ô tô trên cùng các giấy tờ kèm theo cho anh Phạm Đức N và ông Vũ Văn T1 là bố đẻ anh T. Anh N và ông T1 không yêu cầu bị cáo bồi thường. Đối với Giấy phép lái xe hạng B2 của bị cáo đang được quản lý trong hồ sơ vụ án.

- Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại về tính mạng, tổn thất về tinh thần cùng các khoản phải bồi thường khác cho gia đình anh T số tiền 170.000.000 đồng. Ông Vũ Văn T1 nhận đủ số tiền và có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 179/CT-VKSTPHD, ngày 25/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo Dương Văn A về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, rất ân hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương. Người đại diện theo ủy quyền của bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại (thông qua đơn xin xét xử vắng mặt) đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo. Chiếc xe môtô chỉ bị hư hỏng nhẹ không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác. Anh Phạm Đức N xác định xe ô tô do A điều khiển sau tai nạn bị hư hỏng nhẹ, không yêu cầu A phải bồi thường.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn A phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS. Xử phạt bị cáo Dương Văn A từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B1, huyện B2, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết; Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 46 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS: Trả lại giấy phép lái xe số 310218024870 hạng B2 cho bị cáo; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Dương Văn A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người đại diện cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm hiện trường và phương tiện, kết luận giám định pháp y và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 14/8/2022, Dương Văn A điều khiển xe ô tô biển số 15A-607.95 trên đường 391 hướng Hải Dương

- M2, khi đi đến khu vực cây xăng L1 thuộc xã L1 - thành phố H, tỉnh Hải Dương, do điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn làm đầu xe mô tô 34B5 - 092.82 do anh Vũ Đình T điều khiển va chạm với phần cửa xe phía sau bên phải xe ô tô do A điều khiển dẫn đến anh T tử vong, xe mô tô 34B5 - 092.82 và xe ô tô BKS15A-607.95 hư hỏng nhẹ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại cho tính mạng của anh T. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được khi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân thủ các quy tắc giao thông đường bộ để đảm bảo an toàn, không gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông. Do bị cáo điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái không đảm bảo an toàn dẫn đến xe mô tô do anh T điều khiển va chạm với xe ô tô do bị cáo điều khiển. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật giao thông gây hậu quả anh T chết nên đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, sau khi tai nạn xảy ra đã tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân người bị hại cũng có một phần lỗi không chú ý quan sát khi tham gia giao thông nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo cải tạo tại địa phương nên không áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo.

Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại xe ô tô biển số 15A – 607.95 và giấy tờ xe cho anh Phạm Đức N; trả lại xe mô tô biển số 34B5 – 092.82 và giấy tờ xe cho ông Vũ Văn T1 (là người đại diện hợp pháp cho bị hại) là phù hợp nên HĐXX không phải giải quyết. HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung nên cần trả lại 01 giấy phép lái xe cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Sau tai nạn xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 170.000.000đ các khoản theo quy định, ông T1 đã nhận đủ số tiền không yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự. Đối với chiếc xe ô tô của anh Phạm Đức N và xe mô tô của anh T sau tai nạn chỉ bị hư hỏng nhẹ, từ chối định giá thiệt hại và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2, 5 Điều 65, Điều 46 Bộ luật hình sự; khoản 3 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí sô 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Dương Văn A phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Dương Văn A 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 (Hai mươi tư) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B1, huyện B2, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo quy định tại Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải thực hiện nghĩa vụ của người được hưởng án treo theo quy định tại Điều 87 Luật thi hành án hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Trả lại giấy phép lái xe số 310218024870 hạng B2 có giá trị đến ngày 29/11/2031 mang tên Dương Văn A do sở giao thông vận tải Hải Phòng cấp ngày 29/11/2021 cho bị cáo Dương Văn A khi bản án có hiệu lực pháp luật (trả tại trụ sở Tòa án).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/12/2022), người đại diện hợp pháp cho bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ