- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Ngọc L - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 175/2021/HS-ST Ngày 21 - 12 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thiện Lợi
Ông Trương Công Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Bùi Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 182/2021/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/QĐXX-HS ngày 09 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Ngọc L, sinh ngày 27/3/1973; nơi sinh tại Thái Bình; nơi cư trú: Số nhà A/B, ngách C/D, tổ Đ, phường BX, thành phố TB, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Trọng L1 và bà Trần Thị T(đều đã chết); có chồng là anh Nguyễn Văn M và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 148 ngày 05/9/2007 của Công an huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình bằng hình thức phạt tiền vì có hành vi kinh doanh hàng hoá không đúng địa điểm, chấp hành xong ngày 05/9/2007.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06/9/2021, tạm giam từ ngày 09/9/2021 đến nay; trích xuất có mặt tại phiên tòa.
* Người chứng kiến:
- Anh Trần Văn Q, sinh năm 1982; nơi cư trú: Số nhà A, tổ B phường KB, thành phố TB, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
- Chị Dương Thị M1, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà C, tổ S, phường KB, thành phố TB, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/9/2021, tại đường Lê Quý Đôn, thuộc tổ 09, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Thái Bình yêu cầu bị cáo Hoàng Ngọc L dừng lại để kiểm tra do bị cáo có biểu hiện liên quan đến hoạt động ma tuý. Trước sự chứng kiến của người chứng kiến, bị cáo đã tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc của bị cáo 02 túi nilon trong suốt bên trong đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác. Bị cáo khai nhận đó là ma tuý đá của bị cáo do trước đó khoảng 15 giờ cùng ngày bị cáo mua với số tiền 1.200.000 đồng của một người nam giới không biết tên, địa chỉ tại khu vực vườn hoa thuộc phường Đề Thám, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, mục đích để bán kiếm lời. Tổ công tác niêm phong vật chứng, yêu cầu bị cáo và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để làm việc. Tại trụ sở Công an phường, tổ công tác kiểm tra, thu tại túi quần bên trái phía trước của bị cáo đang mặc 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng đã cũ, kiểm tra xe mô tô do bị cáo điều khiển nhưng không phát hiện được gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 341/KLGĐMT - PC09 ngày 07/9/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,8070 gam (không phẩy tám nghìn không trăm bảy mươi gam).
Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến là anh Trần Văn Q và chị Dương Thị M1 đều khai như sau: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/9/2021, tại đường Lê Quý Đôn, thuộc khu vực tổ 09, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, anh, chị chứng kiến một người nữ giới khai tên là Hoàng Ngọc L, sinh ngày 27/3/1973, trú tại: Số nhà A/B, ngách C/D, tổ Đ, phường BX, thành phố TB, tỉnh Thái Bình và tự giác lấy từ trong túi quần bên phải phía trước đang mặc của bị cáo 02 túi nilon trong suốt bên trong đều chứa chất dạng tinh thể trong suốt giao nộp cho tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Thái Bình. Người này khai đó là ma tuý đá vừa mua được mục đích để bán lại kiếm lời. Tổ công tác niêm phong gói ma tuý rồi đưa người nữ giới này và mời anh, chị về trụ sở Công an phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình làm việc. Khi kiểm tra người Hoàng Ngọc L, tổ công tác thu tại túi quần bên trái phía trước của Hoàng Ngọc L đang mặc 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng, đã cũ, kiểm tra xe mô tô do bị cáo điều khiển nhưng không phát hiện được gì.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Hoàng Ngọc L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 190/CT - VKSTPTB ngày 30/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Hoàng Ngọc L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án nên khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc L từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/9/2021. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 triệu đến 07 triệu đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định; chấp nhận cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 17B1 – 75387 cho anh Nguyễn Văn M (chồng của bị cáo); trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu trắng đã cũ.
Bị cáo Hoàng Ngọc L xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vì vậy bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến: Anh Trần Văn Q và chị Dương Thị M1; cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về thời gian, địa điểm phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 06/9/2021, tại đường Lê Quý Đôn thuộc khu vực tổ 09, phường Bồ Xuyên, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Hoàng Ngọc L có hành vi tàng trữ trái phép 02 túi ma tuý loại Methamphetamine, có khối lượng 0,8070 gam, mục đích để bán trái phép kiếm lời thì bị tổ công tác của Phòng điều tra tội phạm về ma tuý, Công an tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được mục đích kiếm tiền nhanh chóng nhất mà ít mất sức lao động nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Xét hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo phù hợp với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều 251 - Tội mua bán trái phép chất ma túy: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện để thực hiện hành vi phạm tội là để đạt được mục đích kiếm tiền nhanh chóng mà ít mất sức lao động nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.
[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào nhưng có nhân thân xấu, năm 2007 bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền (đã xoá tiền sự) nên cần xem xét khi quyết định hình phạt. Song, cũng xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, cho nên khi lượng hình bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo mua bán trái phép chất ma tuý nhằm mục đích kiếm lời bất hợp pháp, cho nên áp dụng khoản 5 cùng điều luật cần phạt bổ sung là tiền đối với bị cáo.
[6] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua ma tuý của 01 người nam giới không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.
[7] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về tài sản khác: 01 điện thoại di động hiệu Iphone thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại cho bị cáo. Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Airblade, biển kiểm soát 17B1 – 75387, xác định thuộc quyền sở chung của bị cáo và anh Nguyễn Văn M(chồng của bị cáo). Khi bị cáo điều khiển xe đi mua bán ma tuý anh M không biết. Ngày 14/9/2021, cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho anh M, anh M không có ý kiến gì về dân sự nên không phải giải quyết tại bản án này.
[9] Về án phí: Bị cáo Hoàng Ngọc L phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Ngọc L có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Ngọc L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Ngọc L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 06/9/2021. Phạt bổ sung bị cáo Hoàng Ngọc L 5.000.000 đồng.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại Methamphetamine, thu của bị cáo Hoàng Ngọc L còn lại sau giám định và bao gói.
4. Tài sản khác: Trả lại cho bị cáo Hoàng Ngọc L 01 điện thoại di động hiệu Iphone.
Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06/9/2021, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/11/2021 giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.
5. Án phí: Buộc bị cáo Hoàng Ngọc L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 21/12/2021.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
- VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- VKS tỉnh Thái Bình;
- Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Hân THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hân
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị Hân
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Hội thẩm nhân dân Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa