vanban.org

Bản án 175/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 22/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T và Lê Thị M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019. Xử phạt bị cáo Võ Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T và Lê Thị M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 175/2020/HS-ST
Ngày 22-5-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Tô Văn Nhung;

2. Bà Bùi Thị Thúy Lan

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thắng Lợi, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 134/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 166/2020/QĐXXST-HS ngày 13/5/2020 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1994 tại tỉnh An Giang; thƣ ng trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 5/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Hòa hảo; dân tộc: Kinh; con ông Nguyễn Văn Bảnh, sinh năm 1963 và bà Võ Thị Mỹ Lệ, sinh năm 1965; bị cáo có 04 anh chị ruột, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1987; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019, có m t.

2. Trần Thiện L, sinh năm 1999 tại tỉnh Kiên Giang; thƣ ng trú: Ấp Xẻo Ngát, xã Tân Thạnh, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Trần Văn Triệu, sinh năm 1978 và bà Võ Thị Phƣơng, sinh năm 1976; bị cáo có 01 em ruột sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019, có m t.

3. Võ Văn L, sinh năm 1995 tại tỉnh An Giang; thƣ ng trú: Ấp Vĩnh Lợi, xã Vĩnh Thạnh Trung, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; con ông Võ Văn Dũng, sinh năm 1969 và bà Đoàn Thị Hiền, sinh năm 1969; bị cáo có 02 anh chị ruột, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019, có m t.

4. Lê Thị M, sinh năm 2000 tại tỉnh Cà Mau; thƣ ng trú: Ấp Chánh Tài, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 02/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; con ông Lê Văn Cƣ ng, sinh năm 1975 và bà Lê Thị Kiều, sinh năm 1977; có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019, có m t

5. Bùi Phƣơng T, sinh năm 1995 tại tỉnh Cà Mau; thƣ ng trú: Ấp Hải An, xã Nguyễn Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; dân tộc: Kinh; con ông Bùi Minh Hoàng, sinh năm 1974 và bà Bùi Hồng Mụi, sinh năm 1974; bị cáo có 02 em ruột, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 16/12/2019, có m t.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1973; địa chỉ: Tổ 6 Phú Cƣ ng, xã An Nông, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, vắng m t.

- Người chứng kiến: Ông Đinh Trung Hiếu, sinh năm 1998, vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M là bạn bè quen biết, cùng sử dụng ma túy đá. Vào khoảng 19 gi ngày 15/12/2019, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M đến phòng trọ của Nguyễn Văn L chơi và cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy đá sử dụng. Lộc góp 250.000 đồng, L và T góp 250.000 đồng, L và M góp 100.000 đồng và có nhiệm vụ đi mua ma túy.

Linh điều khiển xe mô tô biển số 67YA – 1036 chở M đi đến khu vực phƣ ng Khánh Bình, thị xã Tân Uyên g p và mua của 01 ngƣ i đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch đƣợc 01 bịch nylon ma túy đá với giá tiền 500.000 đồng, còn 100.000 đồng đổ xăng và mua đồ ăn. L và M đi về nhà trọ của L và đƣa ma túy vừa mua đƣợc cho cả nhóm xem. Sau đó, cả nhóm rủ nhau thuê phòng số 13 nhà nghỉ Thiên Ý, khu phố Thống Nhất 1, phƣ ng Dĩ An, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng để sử dụng. Nguyễn Văn L lấy một ít ma túy bỏ vào trong nỏ thủy tinh để cho 05 ngƣ i cùng sử dụng, số còn lại hàn kín bịch nylon để trên giƣ ng. Đến khoảng 01 gi ngày 16/12/2019, công an phƣ ng Dĩ An kết hợp cùng Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Dĩ An kiểm tra hành chính phòng số 13 nhà nghỉ Thiên Ý. T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy bỏ vào trong nhà vệ sinh, M lấy bịch nylon ma túy bỏ vào trong áo ngực rồi mở cửa cho công an kiểm tra. Lê Thị M lấy trong áo ngực ra 01 bịch nylon hàn kín chứa ma túy đá giao nộp cho cơ quan công an và thừa nhận là ma túy đá của cả nhóm góp tiền mua để sử dụng bị lập biên bản tiếp nhận ngƣ i phạm tội ra đầu thú đối với Lê Thị M. Đối với Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Cơ quan điều tra tiến hành bắt khẩn cấp.

Vật chứng vụ án: 01 bịch nylon chứa chất màu trắng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa và 01 chai nhựa; 01 xe mô tô biển số 67YA – 1036.

Căn cứ kết luận giám định số 903/MT-PC09 ngày 18/12/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng 0,3019 gam, loại Methamphetamine.

Đối với ngƣ i đàn ông bán ma túy cho M hiện không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An không có căn cứ xử lý.

Đối với xe mô tô biển số 67YA - 1036 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T, chị T không biết L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại chiếc xe nêu trên cho chị T.

Tại cáo trạng số 172/CT – VKS ngày 01 tháng 4 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Lê Thị M mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì thƣ đã niêm phong bên trong chứa 0,2472 gam Methamphetamine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy đá gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa và 01 chai nhựa thu giữ trong vụ án.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M không tranh luận, đối đáp gì, xin Hội đồng xét xử giảm nh mức án cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng. Quá trình điều tra, ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ngƣ i chứng kiến không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣ i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Vào lúc 01 gi ngày 16/12/2019, tại nhà nghỉ T, khu phố T, phƣ ng D, thành phố D, tỉnh B, Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M tàng trữ ma túy loại Methamphetamine trọng lƣợng 0,3019 gam để sử dụng. Nhƣ vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 172/CT – VKS ngày 01 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố D, tỉnh B và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với các bị cáo là có căn cứ đúng ngƣ i, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Vì vậy, cần xử phạt các bị cáo với mức án tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của các bị cáo, các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo.

Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án có đồng phạm nhƣng là đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết ch t chẽ, phân công vai trò cụ thể. Bị cáo L là ngƣ i rủ mua ma túy. Bị cáo M là ngƣ i đi mua ma túy. Các Bị cáo đều là ngƣ i trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.

Tình tiết tăng n ng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

Tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo M đầu thú là những tình tiết giảm nh trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣ i phạm tội.

Về nhân thân: Các bị cáo là ngƣ i sử dụng ma túy, có nghề nghiệp ổn định

Xử lý vật chứng: Xét ma túy loại Methamphetamine có trọng lƣợng 0,2472 gam, mẫu vật hoàn lại sau giám định là chất nhà nƣớc cấm tàng trữ, lƣu hành; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy đá gồm 01 nỏ thủy tinh; 01 đoạn ống hút nhựa và 01 chai nhựa thu giữ trong vụ án cần tịch thu tiêu hủy.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có th i hạn đối với các bị cáo nhằm răn đe giáo dục và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là nghiêm khắc.

Đối với ngƣ i đàn ông bán ma túy cho M hiện không xác định đƣợc nhân thân, lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D không có căn cứ xử lý.

Đối với xe mô tô biển số 67YA - 1036 là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị T, chị T không biết L sử dụng xe vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Dĩ An đã trả lại chiếc xe trên cho chị T là phù hợp.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T và Lê Thị M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

Xử phạt bị cáo Võ Văn L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

Xử phạt bị cáo Trần Thiện L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

Xử phạt bị cáo Bùi Phƣơng T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lê Thị M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, th i hạn tù tính từ ngày 16/12/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy ma túy Methamphetamine có trọng lƣợng 0,2472 gam mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 bộ dụng cụ sử dung ma túy đá gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 đoạn ống hút nhựa và 01 chai nhựa.

(Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2020).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣ ng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Văn L, Trần Thiện L, Bùi Phƣơng T, Lê Thị M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Các bị cáo có m t đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ngƣ i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng m t đƣợc quyền kháng cáo trong th i hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án ho c bản án đƣợc tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ