- Tranh chấp gì? án hình sự — "Q - Tàng trữ MT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Chí Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 96/2015/QH13 Về tăng cường các biện pháp phòng…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TX TP.HÀ NỘI -----***----- | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:175/2019/HSST Ngày: 27/9/2019 - Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thanh Huấn 2. Bà Nguyễn Thị Thanh Loan - Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Xuân Huy – Thư ký Tòa án nhân dân quận TX - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TX tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Ninh - Kiểm sát viên phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 149/2019/TLST-HS ngày 18/7/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2019/QĐXXST-HS ngày 16/9/2019 đối với bị cáo: HN; Nơi cư trú hiện nay: Số nhà a, ngõ b, phường X, thành phố Y, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn X (đã chết) và Trương Thị N; có vợ là Đinh Quỳnh N và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; danh chỉ bản số 167 lập ngày 05/4/2019 tại Công an quận TX; bị tạm giữ từ ngày 03/4/2019 đến ngày 12/4/2019; hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt. | Trong ngày 27 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận TX, thành |
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 03/4/2019 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an phường TX Nam, quận TX, Hà Nội phát hiện Trương Chí Q tại sảnh R4 Royal City số 72A Nguyễn Trãi, Thượng Đình, TX, Hà Nội có biểu hiện nghi vấn nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra Q khai nhận có sử dụng ma túy và đang cất giấu ma túy trong người. Tổ công tác đã đưa Q về trụ sở để tiếp tục làm rõ. Tại trụ sở công an, Q tự giác lấy từ trong túi quần bên trái 01 (một) túi Nilon kích thước 3x5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 (một) túi Nilon kích thước 5x8cm bên trong chứa 20 viên nén màu cam giao nộp cho cơ quan công an và khai nhận đây là ma túy Q vận chuyển thuê cho một người nam giới không quen biết từ khu vực Tự Khoát, Ngũ Hiệp, Thanh Trì, Hà Nội đến sảnh R4 Royal City số 72A Nguyễn Trãi, Thượng Đình, TX, Hà Nội để lấy số tiền công 500.000 đồng.
Cơ quan công an thu giữ của Trương Chí Q:
- 01 (một) túi Nilon kích thước 3x5cm bên trong chứa tinh thể màu trắng;
- 01 (một) túi Nilon kích thước 5x8cm bên trong chứa 20 (hai mươi) viên nén màu cam;
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng đã qua sử dụng, IMEI: 356002080961689;
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu cam đã qua sử dụng, IMEI:358573082595541;
- 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đỏ đã qua sử dụng, IMEI: 355843089296366;
- Số tiền 1.150.000 đồng
Tại bản kết luận giám định số 2176/KLGĐ-PC09 ngày 12/4/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi Nilon là ma túy loại Ketamine, khối lượng 5,601 gam. 20 viên nén màu cam bên trong 01 túi Nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 6,126 gam
Như vậy, tổng khối lượng số ma túy thu giữ của Q là 11,727 gam Ketamine.
Tại cơ quan điều tra, Trương Chí Q khai nhận: Khoảng 15 giờ ngày 03/4/2019, Q đang ngồi ở quán nước vỉa hè tại thôn Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội thì có một người đàn ông không quen biết đến nói chuyện với Q là có chỗ lấy được ma túy nên Q nhờ người đàn ông này mua hộ Q 01 (một) túi ma túy dạng bột “ke” và 20 viên ma túy”ke”, giá thỏa thuận là 6.500.000 đồng. Sau đó người đàn ông đi khoảng 20 phút sau quay lại rồi đưa cho Q 01 vỏ bao thuốc lá bên trong có chứa ma túy, Q trả cho người đàn ông này số tiền 6.500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Q sử dụng số điện thoại 0398555915 gọi cho một người phụ nữ tên Huệ có số điện thoại 0394231935 hẹn Huệ đến khu vực Royal City, TX, Hà Nội để cùng nhau sử dụng ma túy. Q thuê xe ôm chở đến Royal City, trên đường đi Q ném vỏ bao thuốc lá xuống lòng đường, còn ma túy Q cất vào trong túi quần bên trái Q đang mặc trên người. Khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, Q đến Royal City và đi bộ vào khu vực trước sảnh R4 Royal City để đợi H thì bị cơ quan công an kiểm tra bắt quả tang. Ban đầu tại cơ quan điều tra, Q khai do Q sử dụng ma túy, tinh thần không được tỉnh táo nên đã khai với cơ quan điều tra là được thuê vận chuyển số ma túy trên đến cho khách để hưởng tiền công 500.000 đồng, thực chất Q mang ma túy đến sảnh R4 Royal City 72A Nguyễn Trãi, Thượng Đình, TX, Hà Nội nhằm mục đích sử dụng ma túy với một người bạn xã hội tên H, không có mục đích vận chuyển.
Tại Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 17/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố Trương Chí Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố; sau khi xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Trương Chí Q từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy; tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu cam; trả lại bị cáo hai chiếc điện thoại di động gồm Iphone 7 Plus màu đỏ, Nokia màu trắng và số tiền 1.150.000 đồng.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, xin được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận:
Vào khoảng 16 giờ 30 ngày 03/4/2019, tại trước sảnh R4 Royal City số 72A Nguyễn Trãi, phường Thượng Đình, quận TX, Hà Nội, Trương Chí Q đang có hành vi cất giữ trái phép 11,727 gam ma túy loại Ketamine mục đích để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận TX đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và gây hậu quả xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có mức hình phạt phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng nhận thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo
Về xử lý vật chứng: Toàn bộ số ma túy đã thu giữ cần tịch thu tiêu hủy.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu cam do bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc rủ Huệ đến sử dụng ma túy; trả lại bị cáo hai chiếc điện thoại di động gồm Iphone 7 Plus màu đỏ, Nokia màu trắng và số tiền 1.150.000 đồng không liên quan đến tội phạm.
Về nguồn gốc số ma túy, Q khai mua của một người đàn ông không quen
biết tại khu vực quán nước vỉa hè tại thôn Tự Khoát, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch người đàn ông này, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với người sử dụng số điện thoại 0394231935 Q rủ sử dụng ma túy cùng. Quá trình điều tra không làm rõ được nhân thân lai lịch người này, do đó cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Tuyên bố bị cáo Trương Chí Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Xử phạt Trương Chí Q 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 03/4/2019 đến ngày 12/4/2019.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì dán kín niêm phong bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Khắc N, đương sự Trương Chí Q, cán bộ công an phường Lê Q X và đóng dấu của công an phường TX Bắc. Bên trong có 01 túi nilong chứa 5,601 gam ma túy loại Ketamine và 01 túi nilong chứa 20 viên nén màu cam có tổng khối lượng 6,126 gam đều là ma túy loại Ketamine.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu cam đã qua sử dụng, IMEI:358573082595541
Trả lại bị cáo 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng đã qua sử dụng, IMEI: 356002080961689; 01 (một) điện thoại Iphone 7 Plus màu đỏ đã qua sử dụng, IMEI: 355843089296366
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận TX).
Trả lại bị cáo số tiền 1.150.000 đồng (theo ủy nhiệm chi lập ngày 26/9/2019 của công an quận TX)
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội.; - VKSND TP Hà nội; - VKSND quận TX; - Công an quận TX; - THADS quận TX; - Bị cáo; - Lưu HS, VT. BỘ CÔNG AN – VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO – TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – BỘ TƯ PHÁP -------- Số: 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC- TANDTC-BTP THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỂM CỦA THÔNG TƢ LIÊN TỊCH SỐ 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC- BTP NGÀY 24/12/2007 CỦA BỘ CÔNG AN, VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO, TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO, BỘ TƢ PHÁP HƢỚNG DẪN ÁP DỤNG MỘT SỐ QUY ĐỊNH TẠI CHƢƠNG XVIII “CÁC TỘI PHẠM VỀ MA TÚY” CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 Căn cứ Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Căn cứ Nghị quyết số 96/2015/QH13 ngày 26/6/2015 của Quốc hội khóa XIII về tăng cường các biện pháp phòng, chống oan, sai và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự; Bộ trưởng Bộ Công an, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành Thông tư liên tịch sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 của Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT), Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT 1. Sửa đổi, bổ sung điểm a tiết 1.1 mục 1 Phần I như sau: “a) Đối với các chất ma túy ở thể rắn đƣợc hòa thành dung dịch hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã đƣợc pha loãng thì không coi toàn bộ dung dịch hoặc dung dịch pha loãng này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lƣợng chất ma túy trong dung dịch để tính, trọng lƣợng chất ma túy đó. Ví dụ: Thuốc phiện, hêrôin đƣợc hòa thành dung dịch thì không coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lƣợng moócphin cùng với các thành phần khác của thuốc phiện trong dung dịch để tính trọng lƣợng của thuốc phiện hoặc xác định hàm lƣợng moócphin cùng với các thành phần khác của hêrôin để tính trọng lƣợng hêrôin”. 2. Sửa đổi, bổ sung tiết 1.4 mục 1 Phần I như sau: “1.4. Trong mọi trƣờng hợp, khi thu giữ đƣợc các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trƣng cầu giám định để xác định loại và trọng lƣợng chất ma túy, tiền chất thu giữ đƣợc. Bắt buộc phải trƣng cầu giám định hàm lƣợng đẻ xác định trọng lƣợng chất ma túy trong các trƣờng hợp sau: a, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn đƣợc hòa thành dung dịch; b, Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã đƣợc pha loãng; c, Xái thuốc phiện; d, Thuốc gây nghiện, thuốc hƣớng thần; Ngoài các trƣờng hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tiết 1.4 Mục này, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trƣng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật. Nếu chất đƣợc giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhƣng ngƣời thực hiện hành vi phạm tội ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự ngƣời đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tƣơng ứng đối với các tội phạm về ma túy. Trƣờng hợp một ngƣời biết là chất ma túy giả nhƣng làm cho ngƣời khác tƣởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi... thì ngƣời đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 Bộ luật Hình sự, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này. Trƣờng hợp không thu giữ đƣợc vật chứng là chất ma túy, tiền chất nhƣng có căn cứ xác định đƣợc trọng lƣợng chất ma túy, tiền chất mà ngƣời phạm tội đã mua bán, vận chuyển, tàng trữ hoặc chiếm đoạt thì ngƣời phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh và điều khoản tƣơng ứng.” Điều 2. Quy định chuyển tiếp 1. Đối với ngƣời thực hiện hành vi phạm tội trƣớc ngày Thông tƣ liên tịch này có hiệu lực thi hành, nếu các hƣớng dẫn trong Thông tƣ liên tịch này làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự so với các hƣớng dẫn trong Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT thì đƣợc áp dụng khi điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. 2. Đối với các trƣờng hợp mà ngƣời phạm tội đã bị kết án đúng theo Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì không áp dụng hƣớng dẫn của Thông tƣ liên tịch này để kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm. Điều 3. Hiệu lực thi hành Thông tƣ liên tịch này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 30 tháng 12 năm 2015. Bãi bỏ các hƣớng dẫn tại điểm đ tiết 3.7 mục 3 Phần II; điểm b tiết 7.3 mục 7 Phần II; mục 8 Phần II của Thông tƣ liên tịch số 17/2007/TTLT. Điều 4. Trách nhiệm thi hành 1. Các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành và tổ chức thực hiện hƣớng dẫn tại Thông tƣ liên tịch này. 2. Trong quá trình thực hiện Thông tƣ liên tịch nếu có khó khăn, vƣớng mắc, các cơ quan, đơn vị liên quan phản ánh về Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Tƣ pháp để có hƣớng dẫn kịp thời. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Ngọc CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc --------------- Hà Nội, ngày 14 tháng 11 năm 2015 |