- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Cho chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn anh Trần Tấn Đ.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 175/2018/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2018 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông VÕ VĂN CƯỜNG
2. Bà LÊ THỊ LAN
-Thư ký phiên tòa: Bà LÊ THỊ KIM NGỌC – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 489/2018/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2018 về việc tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2018 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị NGUYỄN THỊ NGỌC L, sinh năm 1977 (Có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh TRẦN TẤN Đ, sinh năm 1976 (Vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai ngày 21/6/2018 và lời khai tại Toà, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc L trình bày:
Do mai mối nên chị và anh Đ tiến đến kết hôn vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn do anh chị có quá nhiều điểm bất đồng thường tranh cãi, anh Đ có dấu hiệu ngoại tình không quan tâm vợ con. Anh chị đã chính thức ly thân từ ngày 15/5/2016 cho đến nay. Nay chị cương quyết yêu cầu ly hôn anh Đ.
Con chung có hai cháu tên Trần Trí K, sinh ngày 23/11/1999; Trần Ngọc Khánh A, sinh ngày 05/6/2009, hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi cháu A, không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con, riêng cháu K đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tài sản chung và nợ chung không tranh chấp nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Bị đơn anh Trần Tấn Đ đã được Toà án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải kèm giấy triệu tập theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự liên quan việc chị L khởi kiện như trên nhưng anh Đ vẫn không có văn bản nêu ý kiến và cố tình vắng mặt không rõ lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Anh Trần Tấn Đ vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên toà, chị L trình bày do mai mối nên chị và anh Đ xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 1998, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A. Sau khi cưới, anh chị chỉ sống hạnh phúc đến đầu năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn và chính thức ly thân luôn từ ngày 15/5/2016 cho đến nay. Nguyên nhân do trong cuộc sống anh chị có quá nhiều điểm bất đồng thường xuyên tranh cãi, anh Đ sống không chung thủy, không quan tâm vợ con làm cuộc sống vợ chồng không còn tình cảm, mất hạnh phúc. Nay chị cương quyết xin ly hôn anh Đ. Xét thấy, cho chị L được ly hôn anh Đ là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm chăm sóc con nhỏ. Đồng thời, quá trình thụ lý vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Đ để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị hàn gắn, đoàn tụ nhưng anh Đ vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân của vợ chồng, nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có hai cháu tên Trần Trí K, sinh ngày 23/11/1999; Trần Ngọc Khánh A, sinh ngày 05/6/2009, hiện đang sống với chị L. Xét thấy, tiếp tục giao cháu A cho chị L nuôi là có cơ sở để chấp nhận. Bởi lẽ, trước giờ cháu đã sống ổn định với chị L từ khi vợ chồng ly thân đến nay và bản thân cháu cũng có nguyện vọng được sống với mẹ. Đồng thời, sau khi Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Đ thì anh vẫn bỏ mặc không có văn bản ý kiến gì liên quan đến yêu cầu được nuôi con chung của chị L. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi của con chung cũng như để tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập, sinh hoạt của cháu nên tiếp tục giao cháu A cho chị L nuôi là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với cháu K thì đã trưởng thành nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại Toà, chị L không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên Toà án không đặt ra giải quyết.
[6] Về án phí: Chị L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Ngọc L. Cho chị Nguyễn Thị Ngọc L được ly hôn anh Trần Tấn Đ.
Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Ngọc Khánh A, sinh ngày 05/6/2009 cho chị L nuôi. Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị L không có yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên Toà án không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ngọc L phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí theo biên lai số 08907 ngày 21/6/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C nên xem như thi hành xong.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn nêu trên được tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện C; - Chi cục THADS huyện C; -UBND xã A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ NGUYỄN HOÀNG XUÂN LAM |