vanban.org

Bản án 175/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 08/08/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/08/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S;

Sửa một phần bản án d n sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 26/12/2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự. Không chấp nhận y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S về việc y u cầu hủy một phần diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N tại thửa 210, tờ bản đ số 21.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn Phạm Thị Ngọc S + Bị đơn Ngô Thị Kim N"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S;
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 357 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 175/2018/DS-PT
Ngày: 08/8/2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông L H ng Nư c

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt

Bà Nguyễn Huỳnh Thị Hương Thủy

- Th ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trãi, Thư T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân t nh Đ ng Tháp: Bà Phạm Thị Thanh Hương, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 08 tháng 8 năm 2018 tại trụ sở T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ l số 19/2018/TLPT-DS ngày 01 tháng 02 năm 2018 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án d n sự sơ thẩm số 28/2017/DS - ST ngày 26 tháng 12 năm 2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự bị háng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 185/2018/QĐ – PT ngày 29/6/2018, Quyết định hoãn phi n t a số 178/2018/QĐ-PT ngày 25/7/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc S, sinh năm 1960;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

2. Bị đơn: Bà Ngô Thị Kim N, sinh năm 1963;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật sư Đặng H ng Đ, Văn ph ng Luật sư H ng Đ thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ ng Tháp.

3. Ng ời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Võ Thị K, sinh năm 1954;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.2. Chị Phạm Vĩnh Khoa P, sinh năm 1977;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.3. Bà Phạm Thị P1, sinh năm: 1947;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.4. Ông Phạm Văn L, sinh năm: 1956;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.5. Ông Phạm Công V, sinh năm: 1947;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.6. Ông Lưu Hoàng T, sinh năm: 1964;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.7. Chị Lưu Ngô Kim N1, sinh năm: 1988;

Địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

Người đại diện theo ủy quyền của chị N1: Ông Lưu Hoàng T, sinh năm 1964; địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.8. Ông Nguyễn Xu n H, sinh năm 1950;

Địa ch : ấp B, xã A, huyện H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp.

3.9. Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hùng Tr, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Văn N2, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự.

4. Người háng cáo: Bà Phạm Thị Ngọc S, sinh năm 1960; địa ch : khóm A, phường L, thị xã H ng Ngự, t nh Đ ng Tháp là nguy n đơn trong vụ án.

Có mặt: Bà S, bà N, ông T, Ls Đ; Vắng mặt: Bà K, chị P, bà P1, ông L, ông V không lý do, ông H, ông N2 có đơn xin xét vắng mặt.

NỘI D NG V ÁN

Nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc S trình bày: Năm 1996 ông Nguyễn Xu n H ở tạm tr n đất của cha bà là ông Phạm Văn H1, sau đó ông H hông ở nữa mà bán lại cho bà Ngô Thị Kim N, gia đình bà có đứng ra tranh chấp, ngăn cản việc mua bán trái pháp luật. Vào năm 1998 cha bà có tranh chấp v i ông Nguyễn Xu n H, được T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp xét xử bằng bản án phúc thẩm số 205/DS-PT ngày 28/7/1998, quyết định: công nhận cho Nguyễn Xu n H được quyền sử dụng diện tích 99,6m2, trong đó có căn nhà diện tích 75,6m2 (ngang 6m, dài 12,6m). Vị trí đất: Chiều ngang giáp Quốc lộ 30 là 6m, chiều dài từ mí lộ đo vô đất ông H1 là 16,6m; Đ ng thời, ông H có nghĩa vụ trả 1.000.000đ tiền thành quả lao động cho chủ đất là cha bà. Sau hi bản án có hiệu lực ông H hông y u cầu thi hành án để cấm mốc phần diện tích được công nhận cho sử dụng, cũng hông đóng tiền thành quả lao động cho chủ đất cũ. Ngày 07/9/2001, bà Ngô Thị Kim N cầm bản án phúc thẩm tr n đến UBND xã AB để đăng quyền sử dụng đất và được UBND huyện H ng Ngự (nay là UBND thị xã H ng Ngự) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng t n bà Ngô Thị Kim N. Năm 2006 bà Ngô Thị Kim N làm đơn đăng quyền sử dụng đất và được đo đạc diện tích đất, tại bi n bản ngày 27/12/2006 bà N t n thừa nhận diện tích đất ngang giáp v i Quốc lộ 30 là 6m, dài vô đất của cha bà là 16,6m bằng 96,6m2. Năm 2007 bà N bao chiếm th m phần đất của gia đình bà ngang 6m, dài 3m bằng 18m2 để x y nhà vệ sinh, bà có hiếu nại đến UBND thị trấn H ng Ngự (nay là UBND phường An Thạnh) việc bà N x y dựng lấn chiếm đất của gia đình bà, UBND thị trấn H ng Ngự có iểm tra tại bi n bản ngày 15/3/2007, ngày 16/3/2007 UBND thị trấn H ng Ngự trả lời bằng công văn số 19/CV-UB v i nội dung việc x y dựng nhà vệ sinh của bà N hông lấn chiếm.

Năm 2008 Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất tham mưu v i UBND huyện H ng Ngự (nay là UBND thị xã H ng Ngự) cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Kim N hông đúng v i mốc gi i đo đạc ngày 08/4/1998 theo bản án phúc thẩm của T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp. Ngày 04/12/2008 bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hông bị trừ lộ gi i mà lấn vô phần đất của gia đình bà diện tích ngang 6m, dài 1m bằng 6m2. Khi bà N cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất UBND thị trấn H ng Ngự iểm tra diện tích đất của bà N tại bi n bản ngày 15/3/2007 và theo trích đo hiện trạng quyền sử dụng đất của bà N do Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất thị xã H ng Ngự lập ngày 08/3/2013 thì hông đúng so v i bản án phúc thẩm là 3m. Bà đã nhiều lần hiếu nại đến Chính quyền địa phương nhưng đều bảo vệ cho bà N chiếm dụng đất của bà. Tr n phần diện tích được cấp giấy của bà N nếu trừ 1m lộ gi i theo quy định thì diện tích đất bà N c n sử dụng là ngang 6m, dài 15,6m, trong hi đó đất của gia đình bà ở phía sau hông giáp lộ gi i thì mất chiều dài 1m, ngang 6m bằng 6m2 (Phần được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), phía sau chiều dài 2m, chiều ngang 6m bằng 12m2 (Phần chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Vào ngày 18/4/2013 UBND thị xã H ng Ngự cấp giấy phép x y dựng số 66/GPXD diện tích 57,36m2, bà có hiếu nại UBND vì vụ việc nhiều năm chưa được giải quyết và bà có làm đơn y u cầu thu h i giấy phép và ngăn chặn việc x y dựng để chờ giải quyết. Ngày 12/8/2013 UBND thị xã H ng Ngự cấp giấy phép x y dựng số 39/GP-XD diện tích 45,6m2. Thực tế theo bản án phúc thẩm của T a án nh n d n t nh Đ ng tháp diện tích ch có 36,6m2 . Như vậy bà N đã lấn chiếm phần đất của gia đình bà 6m2 và c n tiếp tục lấn chiếm th m của bà 12m2 ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp.

Theo đơn hởi iện ngày 05/01/2017 và đơn hởi iện bổ sung ngày 03/02/2017 bà S y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại cho bà tổng diện tích đất ngang 6m, dài 3m = 18m2. Nhưng qua xem xét, thẩm định tại chỗ thì phần đất tranh chấp là 19,15m2 và phát sinh tranh chấp th m ngang 5,8m, dài 2,6m = 15,08m2. Vào ngày 11/5/2017 bà S hởi iện bổ sung y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại cho bà tổng diện tích đất 34,23m2. Trong đó diện tích 5,8m2 thuộc một phần thửa 210, tờ bản đ 21, tọa lạc tại hóm An Thạnh A, phường An Lộc, thị xã H ng Ngự do bà Ngô Thị Kim N đứng t n trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Diện tích 13,33m2 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ 21; Diện tích 15,1m2 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ 21 (Chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Ngoài ra, bà Phạm Thị Ngọc S y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N. Buộc bà Ngô Thị Kim N phải trả lại cho bà phần diện tích đã lấn chiếm là 34,23m2. Bà ch y u cầu bà N di dời trả trả đất chứ hông y u cầu trả giá trị đất. Bà y u cầu T a án xác định phần diện tích đất 15,1m2 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ 21, tọa lạc tại hóm A, phường L, thị xã H ng Ngự chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất ở tại đô thị chứ hông phải là đất tr ng c y l u năm.

Bị đơn bà Ngô Thị Kim N trình bày: Ngu n gốc đất diện tích 99,3m2 trư c đ y là của ông Nguyễn Xu n H. Ông H được công nhận quyền sử dụng đất diện tích 99,3m2, tại thửa 286, tờ bản đ 1A, theo bản án phúc thẩm số 205/DS-PT ngày 28/7/1998 của T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp. Có tứ cận: Đông giáp Quốc lộ 30, T y, Nam, Bắc đều giáp đất ông Phạm Văn H1. Vào năm 2003 bà N đổi quyền sử dụng đất của ông H toàn bộ diện tích đất tr n và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 99,3m2 (ngang 6m, dài 16,6m), thửa 210, tờ bản đ 21. Sau đó xin cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/10/2012, diện tích hông thay đổi (diện tích 99,3m2, ngang 6m, dài 16,6m tại thửa 210, tờ bản đ 21). Theo trích lục bản đ ngày 26/11/2012 của Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất thị xã H ng Ngự xác định rất rõ ràng và rất chi tiết về diện tích 17,3m2 là đất lộ gi i trong tổng diện tích 99,3m2 đất được cấp của hộ gia đình bà N.

Bà N làm thủ tục xin giấy phép x y dựng nhà và được cấp giấy phép x y dựng vào ngày 18/4/2013 đúng v i nền nhà cũ, có trừ diện tích lộ gi i. Khi được cấp giấy phép bà N m i đập phá nhà cũ để x y dựng nhà m i, trong quá trình x y dựng phải tốn nhiều chi phí cho việc làm móng, đóng cọc, công thợ và vật liệu x y dựng. Bất ngờ, Ủy ban nh n dân thị xã H ng Ngự ra lệnh đình ch và rút giấy phép lại buộc bà cắt bỏ phần sau nhà m i cho x y dựng vì cho rằng diện tích đất phần sau có tranh chấp (bà N hông được giải thích rõ ràng nguyên nhân vì sao Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự rút giấy phép lại). Nếu chờ giải quyết xong phần tranh chấp thì bà N hông có nhà để ở n n bà N đành chấp nhận cắt phần tranh chấp chờ giải quyết sau. Sau đó Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự thu h i giấy phép cấp lần đầu và cấp lại cho bà N giấy phép lần 2 số 139 ngày 12/8/2013 v i diện tích ngang 6m, dài 7,6m bằng 45,6m2 là diện tích x y dựng tầng 1 (bỏ diện tích phía sau là 11,76m2). Căn cứ diện tích này, hông c n diện tích nhà bếp, mặc dù nhà bếp này vẫn nằm tr n nền nhà cũ của bà N, bà N buộc phải x y dựng nhà để có chỗ ở. Vì nhà bà N x y dựng ch có diện tích ngang 6m, dài 7,6m bằng 45,6m2 nên quá chật hẹp hông có chỗ nấu ăn và đ đạc để ngoài trời dễ bị hư hỏng, lo ảnh hưởng đến sức hỏe của gia đình và môi trường xung quanh n n bà N đã tạm x y dựng lại nhà bếp tr n phần đất trư c đ y bà N đã sử dụng theo hiện trạng cũ ban đầu, chứ hông hề lấn chiếm đất của bà S.

Bà S đã nhiều lần có đơn tranh chấp về ranh gi i các thửa đất, bà S cho rằng các hộ d n nơi đ y lấn chiếm th m phần diện tích đất của gia đình bà, tuy nhi n h sơ giải quyết tranh chấp đất đai xác lập trư c đ y hông thể hiện rõ ràng về ích thư c và diện tích của từng hộ n n hông có cơ sở đối chiếu để thực hiện giải quyết h sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ d n và các hộ d n này đang tiếp tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì họ đã ở l u đời tr n đất. Đối chiếu v i trường hợp của bà N, T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp đã công nhận cho ông Nguyễn Xu n H (nay là bà Ngô Thị Kim N) được quyền sử dụng diện tích đất 99,3m2 theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự cấp. Từ những vấn đề n u tr n, bà N hông thống nhất trả đất theo y u cầu hởi iện của bà Phạm Thị Ngọc S. Bà N không thống nhất trả giá trị đất. Bà N y u cầu T a án nh n d n thị xã H ng Ngự xem xét lại quyền hởi iện của bà S và bác y u cầu hởi iện của bà Phạm Thị Ngọc S. Bà Ngô Thị Kim N hông thống nhất theo y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N hiện nay hông có thế chấp, cầm cố hay thực hiện bất ỳ giao dịch bảo đảm nào hác.

- Theo bản hai ngày 22/3/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan bà Võ Thị K và chị Phạm Vĩnh Khoa P trình bày: Bà K là vợ và chị P là con của ông Phạm Phư c Vĩnh (chết). Bà K, chị P thống nhất về ngu n gốc đất tranh chấp đúng như lời trình bày của bà Phạm Thị Ngọc S. Bà K và chị P hông có y u cầu, cũng hông có tranh chấp gì đối v i bà Phạm Thị Ngọc S và bà Ngô Thị Kim N trong vụ án này.

- Theo bản hai ngày 22/3/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan bà Phạm Thị P1 trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp trư c đ y là của cha t n Phạm Văn H1, bà Phạm Thị Ngọc S đang hởi iện bà N. Bà hông có y u cầu, hông có tranh chấp gì trong vụ án này.

- Theo bản hai ngày 22/3/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ông Phạm Văn L trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của cha t n Phạm Văn H1. Ông thống nhất theo iến và y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S. Tuy nhiên, ông hông có y u cầu, hông có tranh chấp gì đối v i bà Ngô Thị Kim N trong vụ án này.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ông Phạm Công V từ chối nhận văn bản tố tụng của T a án tống đạt nhưng qua tiếp xúc ông V có iến như sau: Ông là anh ruột của bà Phạm Thị Ngọc S. Ông biết ngu n gốc đất bà Phạm Ngọc S hởi iện y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại là của ông bà, cha mẹ ông để lại. Trư c đ y, đã có hởi iện, có quyết định giải quyết nhưng ông hông biết l do gì tạm ngưng một thời gian, sau này bà S lại hởi iện, ông hông cùng bà S hởi iện ai hết vì chính bản th n ông cũng bị bà S iện, bà S muốn iện ai thì iện ông hông tham gia.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ông Lưu Hoàng T, chị Lưu Ngô Kim N1 ủy quyền cho anh Đinh Văn Phú trình bày: Ông T, chị N1 thống nhất v i lời trình bày và y u cầu của bà N là hông thống nhất di dời nhà để trả đất theo y u cầu của bà S. Ông T, chị N1 hông thống nhất việc y u cầu đ i hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N theo y u cầu của bà S.

- Theo bản hai ngày 08/5/2017 người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan ông Nguyễn Xuân H trình bày: Vào năm 1981 ông có mua miếng đất ở của ông Võ Văn Sừng (chết), ngang 10m, dài 20m, vào thời điểm đó có nhiều người làm chứng như: Ông Dương Văn Ngạn (chết), ông Phạm Văn H1 (chết), ông Dương Văn Th n, bà Dương Thị Hận. Đến năm 1996 vì hoàn cảnh gia đình hó hăn n n ông có trao đổi v i các anh em trong gia đình là giao cho bà Ngô Thị Kim N nền nhà ở, ông về xã Thường Th i Hậu A, huyện H ng Ngự ở, bà N ở đến nay diện tích nhà hông thay đổi, nay bà N cất nhà m i cũng hông thay đổi. Trư c hi ông và bà N trao đổi hông có tranh chấp gì, bà N cất nhà gỗ, nay là nhà i n cố, bà N cũng cất theo giấy tờ Nhà nư c cấp. Bản th n ông hông có tranh chấp, cũng hông có y u cầu gì đối v i bà N và bà S trong vụ iện này vì ông đã trao đổi v i bà N xong và bà N ở ổn định đến nay.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự ủy quyền cho ông Đặng Văn N2 có văn bản iến như sau: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Kim N diện tích 99,3m2, tại thửa 210, tờ bản đ 21, đúng theo mốc gi i đo đạc ngày 08/4/1998 của bản án phúc thẩm số 205/DS-PT ngày 28/7/1998 của T a án nh n d n t nh Đ ng Tháp. Tuy nhiên, so v i Mảnh trích đo địa chính số 216-2017 trong đó thể hiện phần diện tích tranh chấp g m có diện tích đã cấp giấy. Ri ng phần diện tích 17,3m2 thuộc phạm vi công trình giao thông Quốc lộ 30 hông thể hiện tr n mảnh trích đo.

- Tại bản án d n sự số 28/2017/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự đã xử:

1. Không chấp nhận y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S.

- Giao cho hộ bà Ngô Thị Kim N tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 5,8m2 thuộc một phần thửa 210, tờ bản đ số 21 do bà Ngô Thị Kim N đứng t n quyền sử dụng đất và diện tích 13,3m2 thuộc một phần thửa 97 chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng, đất tọa lạc tại hóm An Thạnh A, phường An Lộc, thị xã H ng Ngự. Cụ thể như sau:

- Mốc 3-4-9-10 diện tích 5,8m2 thuộc một phần thửa 210:

+ Chiều ngang phía trư c từ mốc 3 đến mốc 10 là 5,80m;

+ Chiều ngang phía sau từ mốc 4 đến mốc 9 là 5,80m;

+ Chiều dài một cạnh từ mốc 3 đến mốc 4 là 1.00m;

+ Chiều dài một cạnh từ mốc 9 đến mốc 10 là 1.00m;

- Mốc 4-5-8-9 diện tích 13,3m2 thuộc một phần thửa 97:

+ Chiều ngang phía trư c từ mốc 4 đến mốc 9 là 5,80m;

+ Chiều ngang phía sau từ mốc 5 đến mốc 8 là 5,80m;

+ Chiều dài một cạnh từ mốc 4 đến mốc 5 là 2,30m;

+ Chiều dài một cạnh từ mốc 8 đến mốc 9 là 2,30m;

Trong đó:

Mốc 1: đo gởi về góc nhà là 4,55m và đo về tim Quốc lộ 30 là 7,50m;

Mốc 2: đo gởi về góc nhà là 2,90m và đo về tim Quốc lộ 30 là 7,50m;

Mốc 3: đo gởi về mốc 2 là 12,10m và đo gởi về mốc 10 là 5,80m;

Mốc 4: đo gởi về mốc 5 là 2,30m và đo về mốc 3 là 1.00m;

Mốc 5: đo gởi về mốc 6 là 2,60m và đo gởi về mốc 8 là 5,80m;

Mốc 6: đo gởi về c y dừa là 2,40m và đo gởi vể mốc 7 là 5,80m;

Mốc 7: đo gởi về c y dừa là 4,20m và đo gởi vể trụ đá là 5,70m;

(Kèm theo Mãnh trích đo số 216 – 2017 ngày 13/5/2017 của Văn ph ng đăng

quyền sử dụng đất thị xã H ng Ngự).

2. Đình ch một phần vụ án do bà Phạm Thị Ngọc S tự nguyện rút đơn đối v i y u cầu bà N trả lại diện tích 15,1m2 theo các mốc 5-6-7-8 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ số 21, chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

3. Không chấp nhận y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S về việc y u cầu hủy một phần diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N tại thửa 210, tờ bản đ số 21.

- Hộ bà Ngô Thị Kim N được đến cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền làm thủ tục đăng điều ch nh để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng hiện trạng sử dụng theo quy định của pháp luật

Ngoài ra, bản án d n sự sơ thẩm c n tuy n về án phí, chi phí tố tụng, hư ng dẫn thi hành bản án và thời hạn háng cáo.

- Sau hi xét xử sơ thẩm, ngày 04/01/2018 bà Phạm Thị Ngọc S là nguy n đơn háng cáo toàn bộ bản án d n sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 26/12/2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự, y u cầu T a án phúc thẩm xét xử buộc bà Ngô Thị Kim N trả lại diện tích đất 5,8m2, thuộc một phần thửa số 210, tờ bản đ số 21. Y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 210, tờ bản đ số 21 do Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự cấp cho bà Ngô Thị Kim N đứng t n giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại diện tích 13,3m2 đất thuộc một phần thửa số 97, tờ bản đ số 21, hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Tại phi n t a phúc thẩm:

N đơn bà Phạm Thị Ngọc S trình bày: Năm 1998 Tòa án nhân t nh Đ ng Tháp đã công nhận cho ông Nguyễn Xuân H diện tích 99,6m2, sau đó bà N đổi đất v i ông H, bà N đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, qua hai lần mở rộng lộ nhưng quyền sử dụng đất của bà N dẫn giữ nguyên là không đúng nên đề nghị Hội đ ng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà,

Luật sư Đặng H ng Đ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà Ngô Thị Kim N trình bày: Ngu n gốc đất tranh chấp là của ông H đổi đất v i bà N theo bản án dân sự phúc thẩm số 205/1998/DS-PT ngày 28/7/1998 của Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp là 99,6m2 nhưng cấp cho bà N diện tích 99,3m2; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng vị trí, hiện trạng mà bà N đang sử dụng có ông Vốn làm chứng; các văn bản trả lời của Ủy ban nhân dân thị xã H ng Ngự xác định bà N sử dụng không lấn chiếm qua đất của gia đình bà S. Tuy nhiên, có diện tích 13,3m2 không nằm trong quyền sử dụng đất của bà N nhưng bà đã sử dụng ổn định, đã xây dụng nhà ở nên tiếp tục giao cho bà N sử dụng không phải trả giá trị đất là hợp lý. Do đó, đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã H ng Ngự.

Đại diện Viện iểm sát nh n d n t nh Đ ng Tháp phát biểu:

+ Về tố tụng: Từ hi thụ l vụ án và quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán thụ l giải quyết vụ án đúng các quy định pháp luật. Quá trình giải quyết vụ án và tại phi n t a Hội đ ng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định pháp luật. Các đương sự, luật sư chấp hành tốt nội quy phi n t a. + Về nội dung: Đối v i diện tích 5,8m2. Căn cứ vào bản án dân sự phúc thẩm số 205/1998/DS-PT ngày 28/7/1998 của Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp, biên bản đo đạc ngày 08/4/1998 của Tòa án nhân dân huyện H ng Ngự và công văn số 630/UBND-HC ngày 01/6/2018 của UBND thị xã H ng Ngự cho rằng UBND cấp chưa đúng theo bản án số 205 nên diện tích đất 5,8m2 thuộc đất của ông H1 cha của bà S là có căn cứ. Đối v i diện tích đất 13,3m2 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ số 21 chưa có ai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa có tên trong sổ địa chính hay sổ mục kê nhưng hiện nay bà N cất nhà ở có ngu n gốc là của ông H1 nên không thuộc quyền sử dụng của bà N. Tuy nhiên, bà N đã xây dựng các công trình có kết cấu gắn liền nhau nên để nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho hai bên, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại, do đó bà N phải trả giá trị toàn bộ diện tích tranh chấp nói trên. Đề nghị Hội đ ng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S.

Sau hi nghi n cứu các tài liệu và chứng cứ có trong h sơ, được thẩm tra tại phi n t a, căn cứ vào ết quả tranh luận tại phi n t a và lời phát biểu của đại diện Viện iểm sát:

NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN

[1] Xét y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S về việc y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại diện tích đất 5,8m2, thuộc một phần thửa số 210, tờ bản đ số 21. Y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 210, tờ bản đ số 21 do Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự cấp cho bà Ngô Thị Kim N đứng t n; y u cầu bà Ngô Thị Kim N trả lại diện tích 13,3m2 đất thuộc một phần thửa số 97, tờ bản đ số 21, hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hội đ ng xét xử xét thấy:

- Bà Ngô Thị Kim N được cấp quyền sử dụng đất thửa 210, tờ bản đ số 21 tr n cơ sở bản án dân sự phúc thẩm số 205/1998/DS-PT ngày 28/7/1998 của Tòa án nhân dân t nh Đ ng Tháp. Theo xác nhận tại công văn số 777/UBND-HC ngày 24/7/2017 của Ủy ban nh n d n thị xã H ng Ngự xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Ngô Thị Kim N, diện tích 99,3m2, thửa số 210, tờ bản đ số 21, đúng theo mốc gi i đo đạc ngày 08/4/1998 của bản án dân sự phúc thẩm số 205/1998/DS-PT ngày 28/7/1998. Do đó, việc bà S y u cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 210, tờ bản đ số 21 và y u cầu bà N giao trả diện tích 5,8m2 thuộc một phần thửa số 210 nằm trong phạm vi các mốc 3,4,9,10 về mốc 3 là hông có căn cứ chấp nhận.

- Đối v i việc bà S y u cầu bà N giao trả diện tích 13,3m2 nằm trong phạm vi các mốc 4,5,8,9 về mốc 5 thuộc một phần thửa 97 . Hội đ ng xét xử xét thấy: Tại Công văn số 392/TNMT ngày 03/8/2017 của Ph ng Tài nguy n và môi trường thị xã H ng Ngự xác nhận diện tích 13,3m2 nằm trong phạm vi các mốc 4,5,8,9 về mốc 5 thuộc một phần thửa 97, tờ bản đ số 21 hiện tại chưa có ai đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chưa có t n trong sổ địa chính hay sổ mục . Tuy nhi n, tại Công văn số 630/UBND-HC ngày 01/6/2018 của UBND thị xã H ng Ngự xác định theo xác minh của 02 hộ d n sinh sống l u năm tại phường L thì ngu n gốc đất phía sau nhà bà N (tại thửa số 97, tờ bản đ số 21) có ngu n gốc là của ông H1. Điều này cũng phù hợp v i bi n bản đo đạc hiện trạng đất tranh chấp ngày 08/4/1998và phần quyết định của bản án dân sự phúc thẩm số 205 nói trên đã xác định diện tích đất tranh chấp có hư ng đông giáp Quốc lộ 30, các hư ng còn lại đều giáp v i đất của ông Phạm Văn H1. Do hiện trạng diện tích 13,3m2 nằm trong phạm vi các mốc 4,5,8,9 về mốc 5 là phần nhà phụ của bà N có ết cấu: móng cột b tông cốt thép gắn liền nhau v i nhà chính, nền lót gạch ceramic, vách tường cao 1,2m, ốp gạch men, phần tr n vách tole, mái lợp tole sống vuông, sà g thép họp, cửa sắt éo Đài Loan, b n trong có giàn bếp i n cố dài 5,1m, ngang 0,6m, ốp đá hoa cương nên việc đập bỏ sẽ rất tốn ém cho hộ bà N và cũng không ảnh hưởng l n đến diện tích còn lại của thửa số 97 nhưng bà N có nghĩa vụ trả giá trị đất cho những người thừa ế của ông H1 theo giá mà Hội đ ng định giá đã định 3.000.000đ/1m2.

[2] Từ những ph n tích n u tr n Hội đ ng xét xử xét thấy y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S là có căn cứ để chấp nhận một phần. Do đó, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 26/12/2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự.

[3] Luật sư đề nghị Hội đ ng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà S giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thị xã H ng Ngự có căn cứ một phần về tiếp tục giao cho bà N sử dụng 5,8m2 đã được Ủy ban nhân dân thị xã H ng Ngự cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà N nên chấp nhận phần này.

[4] Đại diện Viện iểm sát đề nghị sửa bản án d n sự sơ thẩm là phù hợp một phần nên chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện iểm sát.

[5] Do y u cầu của bà S được chấp nhận một phần n n bà S và bà N phải chịu tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản theo t lệ phần diện tích đất tranh chấp hông được chấp nhận cụ thể: Những người thừa kế của ông H1 phải chịu 873.000 đ ng, hộ bà N phải chịu 2.001.000 đ ng.

[6] Do y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S được chấp nhận một phần nên bà S không phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm theo hoản 2, Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự.

Vì các lẽ trên;

T Đ NH

Căn cứ hoản 2 Điều 308 và hoản 2, Điều 148 Bộ luật tố tụng d n sự; Điều 357 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án phí và lệ phí T a án.

T y n X

1. Chấp nhận một phần y u cầu háng cáo của bà Phạm Thị Ngọc S;

2. Sửa một phần bản án d n sự sơ thẩm số 28/2017/DS-ST ngày 26/12/2017 của T a án nh n d n thị xã H ng Ngự.

Không chấp nhận y u cầu của bà Phạm Thị Ngọc S về việc y u cầu hủy một phần diện tích trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Ngô Thị Kim N tại thửa 210, tờ bản đ số 21.

Hộ bà N g m: Bà Ngô Thị Kim N, ông Lưu Hoàng T, chị Lưu Ngô Kim N1 (hộ bà N) được tiếp tục sử dụng phần đất diện tích 5,8m2 thuộc một phần thửa 210, tờ bản đ số 21 nằm trong phạm vi các mốc 3,4,9,10 về mốc 3 và diện tích 13,3m2 thuộc một phần thửa 97 tờ bản đ số 21 nằm trong phạm vi các mốc 4,5,8,9 về mốc 4, đất tọa lạc tại phường An Lộc, thị xã H ng Ngự (theo Mãnh trích đo số 216 – 2017 ngày 13/5/2017 của Văn ph ng đăng quyền sử dụng đất thị xã H ng Ngự).

Hộ bà N được đến cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền đăng , điều ch nh, bổ sung để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã tuy n.

Hộ bà N li n đ i trả cho những người thừa ế của ông Phạm Văn H1 g m: bà Phạm Thị Ngọc S, bà Phạm Thị P1, ông Phạm Văn L, ông Phạm Công V, bà Võ Thị K, chị Phạm Vĩnh Khoa P (Bà K là vợ, chị P là con của ông Phạm Phư c Vĩnh) số tiền 39.900.000 đ ng (Ba mươi chín triệu, chín trăm ngàn đ ng chẳn).

3. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn y u cầu thi hành án mà b n phải thi hành án chưa thi hành xong thì hàng tháng c n phải chịu tiền lãi bằng 50 mức lãi suất theo quy định tại hoản 1 Điều 468 Bộ luật d n sự năm 2015 tương ứng v i thời gian chưa thi hành án đến hi thi hành án xong.

4. Về chi phí tố tụng: Bà Phạm Thị Ngọc S, bà Phạm Thị P1, ông Phạm Văn L, ông Phạm Công Văn bà Võ Thị K, chị Phạm Vĩnh Khoa P (Bà K là vợ, chị P là con của ông Phạm Phư c Vĩnh) chịu 873.000đ bà S đã nộp và chi xong; Bà Ngô Thị Kim N, ông Lưu Hoàng T, chị Lưu Ngô Kim N1 li n đ i chịu 2.001.000đ để trả lại cho bà S vì bà S đã tạm ứng trư c.

5. Về án phí d n sự sơ thẩm:

+ Bà Phạm Thị Ngọc S phải nộp 870.000đ tiền án phí d n sự sơ thẩm, được hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 1.350.000đ theo bi n lai số 034573 ngày 13/02/2017; 300.000đ theo bi n lai số 034630 ngày 04/4/2017 và 300.000đ theo bi n lai số 034693 ngày 15/5/2017, (tổng cộng là 1.950.000đ) của Chi cục Thi hành án d n sự thị xã H ng Ngự. Bà Phạm Thị Ngọc S được nhận lại 1.080.000đ

+ Bà Ngô Thị Kim N, ông Lưu Hoàng T, chị Lưu Ngô Kim N1 phải chịu 1.995.000đ tiền án phí d n sự sơ thẩm.

6. Về án phí d n sự phúc thẩm:

Bà Phạm Thị Ngọc S hông phải chịu án phí d n sự phúc thẩm, trả lại cho bà S 300.000 đ ng tiền tạm ứng án phí kháng cáo theo biên lai số 02477 ngày 04/01/2018 của Chi cục Thi hành án d n sự thị xã H ng Ngự.

7. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án d n sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án d n sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ