- Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị Thu T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2019/HS-ST. Ngày: 30/12/2019. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đức Chung.
Ông Phạm Văn Huynh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hửu Quốc, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 184/2019/TLST-HS, ngày 11 tháng 12 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 183/2019/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 12 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1992 tại Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: Ấp D, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Thành L và bà Trần Thị B; bị cáo là con ba trong gia đình có 03 anh em, bị cáo chưa có chồng con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/9/2019 và chuyển tạm giam đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Long Thành.
(Bị cáo Nguyễn Thị Thu T có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thu T là người thường xuyên sử dụng ma túy. Để có ma túy sử dụng vào lúc 19 giờ ngày 20/9/2019 T điện thoại cho người đàn ông tên B (không rõ tên tuổi, địa chỉ) tại ấp Bến Gỗ, phường An Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để hỏi mua ma túy, B đồng ý và hẹn T đến khu vực Dốc 47 để Bi bán ma túy. Sau đó, T đi xe ôm đến khu vực Dốc 47 gặp Bi, tại đây Bi bán cho T 01 gói ma túy đá với giá 750.000 đồng, sau khi trả tiền và lấy ma túy xong T đón xe ôm đi về nhà nghỉ M thuộc khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. T vào phòng số 01 lấy số ma túy vừa mua được phân chia thành 04 gói nhỏ, trong đó 02 gói có kích thước 02cm x 04cm và 02 gói có kích thước 01cm x 02 cm rồi cất giấu vào khoang chứa pin điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh để sử dụng dần. Đến 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2019 lực lượng công an thị trấn Long Thành tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M thì phát hiện phía trong điện thoại Nokia màu xanh của T có 04 gói nylon bên trong chứa các tinh thể màu trắng không rõ hình, nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa người cùng tang vật về trụ sở và chuyển toàn bộ hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành.
Tại bản kết luận giám định số: 1122/PC09-GĐMT ngày 27/9/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có trọng lượng: 1,1773 gam, loại: Methamphetamine.
Vật chứng vụ án: 04 gói nylon, trong đó 02 gói có kích thước 02 cm x 04 cm và 02 gói có kích thước 01cm x 02 cm và 01 điện thoại di động Nokia màu xanh được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành chờ xử lý.
Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên, phù hợp với lời khai những người làm chứng cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập tại hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS, ngày 01 tháng 12 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 14 – 18 tháng tù giam.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch tiêu hủy số ma túy được niêm phong số 1122/PC09-GĐMT của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai và tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
. Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T khai nhận: Bị cáo là người thường xuyên sử dụng trái phép chất ma túy (loại ma túy tổng hợp). Ngày 20/9/2019 bị cáo điện thoại cho một người đàn ông tên B (chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua 01 gói ma túy với giá 750.000 đồng. Sau đó T đến nhà nghỉ M thuộc khu Văn Hải, thị trấn Long Thành, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai. T vào phòng số 01 lấy số ma túy vừa mua được phân chia thành 04 gói nhỏ, trong đó 02 gói có kích thước 02cm x 04cm và 02 gói có kích thước 01 cm x 02 cm rồi cất giấu vào khoang chứa pin điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh để sử dụng dần. Đến 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2019 lực lượng công an thị trấn Long Thành tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà nghỉ M thì phát hiện phía trong điện thoại Nokia màu xanh của T có 04 gói nylon bên trong chứa các tinh thể màu trắng không rõ hình, nghi là ma túy nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Qua giám định thì số ma túy thu giữ của T có trọng lượng 1,1773 gam, loại: Methamphetamine. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Bản thân bị cáo là người nghiện ma túy nên bị cáo hiểu rất rõ tác hại của ma túy sẽ gây hiểm họa mắc nhiều căn bệnh nguy hiểm, là mầm mống của nhiều loại tội phạm khác nhưng vì xem thường pháp luật bị cáo vẫn cất giấu trong người để sử dụng. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra bị cáo có ông ngoại là người có công với cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến và có mẹ ruột tham gia Hội phụ nữ ấp 5, xã An Phước có nhiều thành tích được tặng giấy khen. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
. Đối với người tên B bán cho bị cáo T 01 gói ma túy, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Long Thành tiếp tục điều tra xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Cần tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định đã niêm phong số 1122/PC09-GĐMT ngày 27/9/2019 có đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ bị cáo là ngày 21/9/2019.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có chứa ma túy sau giám định đã niêm phong số 1122/PC09-GĐMT ngày 27/9/2019 có đóng dấu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đã qua sử dụng do bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.
(Hiện vật chứng đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành quản lý theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/12/2019).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai; - Viện KSND tỉnh Đồng Nai; - Viện KSND huyện Long Thành; - THADS huyện Long Thành; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Thành |