vanban.org

Bản án 174/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vơi bị đơn bà Trần Thị L.

1. Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2025 theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 là 41.476.639 (bốn mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) - Trần Thị L"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vơi bị đơn bà Trần Thị L.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 10
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2025/DS-ST
Ngày: 08-8-2025
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Vũ Huy Hoàng

2. Ông Phạm Văn Tuyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thúy – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Phương Đại – Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2025/TLST-DS ngày 01 tháng 4 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 551/2025/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 6 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 31/2025/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2025 giữa:

1. Nguyên đơn: Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam)

Địa chỉ: Số 91 P, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lee Yun H - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Ông Lee Yun H ủy quyền cho: Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên T.

Địa chỉ: Phòng 401, tầng 4, tòa nhà 793/49/1 T, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền số 06/2024/GUQ-MAFC ngày 02/4/2024)

Công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên T ủy quyền cho: Ông Nguyễn Phạm Thành N, sinh năm: 2000 – Chuyên viên pháp lý của Công ty luật

Địa chỉ liên hệ: Phòng 401, tầng 4, tòa nhà 793/49/1 T, phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Giấy ủy quyền lập ngày 01/7/2024, Ông N vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1985.

Địa chỉ: C8/282/1B, ấp C, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (Địa chỉ cũ: C8/282/1B, ấp C, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh).

(bà L vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Phạm Thành N trình bày:

Ngày 11/03/2023, Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) (sau đây goi tắt là Công ty) ký Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 về việc cấp tín dụng cho bà Trần Thị L vơi số tiền là 39.849.000 đồng (trong đó bao gồm khoản vay: 37.000.000 đồng, tiền bảo hiểm: 2.849.000 đồng), lãi suất 50%/năm, thời hạn vay 24 tháng.

Sau khi hợp đồng được ký kết, Công ty đã giải ngân theo đúng quy định trong hợp đồng tín dụng cho bà Trần Thị L, số tiền giải ngân được Công ty chuyển vào tài khoản cá nhân của bà Trần Thị L. Theo hợp đồng tín dụng, bà Trần Thị L có trách nhiệm, nghia vụ thanh toán trả góp hàng tháng vơi số tiền là 2.806.743 đồng trong ky hạn 24 tháng, kể tư ngày 10/04/2023 đến ngày 10/03/2025 cho Công ty.

Kể tư ngày được giải ngân đến nay, bà Trần Thị L chỉ mơi thanh toán trả góp cho Công ty được 13 ky vơi tổng số tiền đã thanh toán là 36.908.455 đồng.

Tư ngày 10/05/2024 đến nay bà Trần Thị L không tiếp tục thực hiện nghia vụ thanh toán trả góp theo hợp đồng tín dụng đã ký kết vơi Công ty.

Công ty đã liên hệ nhắc nợ qua điện thoại rất nhiều lần để yêu cầu bà Trần Thị L thực hiện nghia vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng. Đồng thời, Công ty cũng đã gửi thư đề nghị thanh toán để thông báo trực tiếp cho bà Trần Thị L biết về việc đã quá hạn thanh toán. Tuy nhiên, bà Trần Thị L vân không thực hiện nghia vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho Công ty.

Do đã gởi thông báo nhắc nợ nhưng bà Trần Thị L vân cố tình không thực hiện nghia vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng cho Công ty. Nên Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thị L thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 08/08/2025 là: 41.476.639 đồng. Trong đó:

Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 22.548.407 đồng.

Số tiền lãi trong hạn: 5.615.855 đồng.

Số tiền lãi quá hạn: 12.802.692 đồng.

Số tiền lãi chậm trả: 509.685 đồng.

Ngoài ra Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) còn yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị L phải thanh toán lãi phát sinh kể tư ngày 09/08/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Trần Thị L vắng mặt, không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà có ý kiến phát biểu như sau:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghia vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng vơi bà Trần Thị L. Đây là tranh chấp về hợp đồng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã Bình Lơi, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh cung cấp: “Đương sự Trần Thị L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại C8/282/1B ấp C, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng hiện tại không còn cư ngụ tại địa phương từ tháng 02/2025 cho đến nay. Đương sự Trần Thị L hiện tại sinh sống ở đâu không rõ”.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) cung cấp địa chỉ nơi cư trú hiện tại của bà Trần Thị L nhưng nguyên đơn không cung cấp được địa chỉ nào khác ngoài địa chỉ C8/282/1B ấp C, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời nguyên đơn xác định bà Trần Thị L thay đổi địa chỉ nơi cư trú nhưng không thông báo địa chỉ nơi cư trú mơi cho nguyên đơn. Như vậy đây được coi là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nhằm trốn tránh nghia vụ đối vơi nguyên đơn.

Theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 ghi nhận địa chỉ nơi ở hiện tại của bà Trần Thị L tại C8/282/1B ấp C, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh.

Do đó, Hội đồng xét xử xác định thẩm quyền của Tòa án căn cứ theo địa chỉ các bên xác lập trên giao dịch, hợp đồng tại C8/282/1B ấp C, xã B, huyện K, Thành phố Hồ Chí Minh. Đồng thời đây cũng là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn bà Trần Thị L.

Căn cứ khoản 3 Điều 5, điểm a khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hương dân một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Phạm Thành N vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn bà Trần Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227; Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về áp dụng pháp luật: Do giao dịch giữa các đương sự được xác lập vào thời điểm Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 và Bộ luật dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các văn bản pháp luật này để làm cơ sở giải quyết vụ án.

. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy như sau:

Tòa án triệu tập bà Trần Thị L đến Tòa án để ghi nhận ý kiến, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa giải quyết vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng nhưng bà L không đến Tòa để giải quyết vụ án. Vì vậy, bà L đã tự tươc bỏ quyền được chứng minh của mình và phải chịu hậu quả của việc không chứng minh theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thưa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và các tài liệu, chứng do Tòa án thu thập để làm chứng cứ giải quyết vụ án.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thanh toán nợ gốc:

Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, đăng ký thay đổi lần thứ 13 ngày 02/4/2024; Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 về thành lập và hoạt động Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam); Điều lệ của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) thì Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) là tổ chức tín dụng và được thực hiện cấp tín dụng dươi các hình thức “Phát hành thẻ tín dụng”.

. Xét Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) và bà Trần Thị L được lập trên cơ sở sự tự nguyện của hai bên, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật. Hình thức và nội dung hợp đồng phù hợp vơi quy định tại Điều 117, Điều 119 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên làm phát sinh quyền và nghia vụ giữa các bên và có giá trị ràng buộc giữa các bên để thực hiện hợp đồng, là cơ sở pháp lý để mỗi bên xác định quyền và nghia vụ của mình.

. Căn cứ Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 thể hiện Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) đã cấp hạn mức tín dụng cho bà L vơi số tiền là 39.849.000 đồng, trong đó: khoản vay là 37.000.000 đồng, bảo hiểm là 2.849.000 đồng.

Căn cứ vào Phiếu báo nợ ngày giao dịch 13/3/2023; Giấy chứng nhận quyền sử dụng chứng thư số FPT CA do Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) cung cấp có cơ sở xác định bà Trần Thị L đã được Công ty cấp hạn mức tín dụng vơi số tiền 37.000.000 đồng và tiền bảo hiểm 2.849.000 đồng. Số tiền trên đã được Công ty chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản số 0108021756 đứng tên bà Trần Thị L.

Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì bà L có trách nhiệm trả góp hàng tháng vơi số tiền là 2.806.743 đồng trong thời hạn 24 tháng kể tư ngày 10/4/2023 đến ngày 10/3/2025.

Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng; Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng do Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) cung cấp thể hiện trong quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trần Thị L đã thanh toán cho Công ty được 13 ky vơi tổng số tiền là 36.908.455 đồng. Bà Trần Thị L đã ngưng việc thanh toán trả góp hàng tháng cho Công ty tư ngày 10/5/2024 cho đến nay. Tạm tính đến ngày 08/8/2025 bà Trần Thị L còn phải thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) số tiền nợ gốc là 22.548.407 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) yêu cầu bà Trần Thị L phải thanh toán số nợ gốc là 22.548.407 đồng là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Xét yêu cầu của nguyên đơn về lãi suất: Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “1. Tổ chức tín dụng được quyền ấn định và phải niêm yết công khai mức lãi suất huy động vốn, mức phí cung ứng dịch vụ trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng.

2. Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động Công ty tài chính của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật…”.

Tại khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng nhà nươc quy định: “4. Khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay theo thỏa thuận, thì khách hàng phải trả lãi tiền vay như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất cho vay đã thỏa thuận tương ứng vơi thời hạn vay mà đến hạn chưa trả;

b) Trường hợp khách hàng không trả đúng hạn tiền lãi theo quy định tại điểm a khoản này, thì phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất do tổ chức tín dụng và khách hàng thỏa thuận nhưng không vượt quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng vơi thời gian chậm trả;

c) Trường hợp khoản nợ vay bị chuyển nợ quá hạn, thì khách hàng phải trả lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn tương ứng vơi thời gian chậm trả, lãi suất áp dụng không vượt quá 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn.”

Tại Mục 8.3 của Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 có quy định về trả nợ trễ hạn “… khi đến hạn thanh toán mà khách hàng không trả hoặc trả không đầy đủ nợ gốc và/hoặc lãi theo thỏa thuận thì ngoài việc trả lãi trên nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận thì khách hàng còn phải chịu tiền lãi trên dư nợ gốc bị quá hạn và tiền lãi chậm trả…”.

Tư những căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy sự thỏa thuận về mức lãi suất vay của các bên là phù hợp vơi quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà không cần phải điều chỉnh.

Tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 thì giữa Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) và bà Trần Thị L có thỏa thuận về lãi suất là 50.00%/năm, tương ứng là 4.17%/tháng.

Căn cứ Báo cáo lịch sử thanh toán hợp đồng tín dụng; Báo cáo thu hồi nợ vay hợp đồng tín dụng do Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) cung cấp thể hiện tư ngày 10/5/2024 cho đến nay bị đơn bà Trần Thị L đã ngưng không thanh toán tiền gốc và lãi cho Công ty theo thỏa thuận. Tạm tính đến ngày 08/8/2025, số tiền lãi mà bà L phải thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) là: Lãi trong hạn 5.615.855 đồng, lãi quá hạn 12.802.692 đồng, lãi chậm trả 509.685 đồng.

Việc bị đơn ngưng trả tiền vốn và lãi hàng tháng cho nguyên đơn là đã vi phạm điều khoản thanh toán của của hợp đồng tín dụng. Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị L trả số tiền gốc và lãi là có cơ sở theo quy định tại các Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

. Về nghia vụ chậm thi hành án: Theo Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán thì: Đối vơi trường hợp chậm thực hiện nghia vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi thì quyết định kể tư ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp vơi quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

. Tư những căn cứ đã viện dân, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) đối vơi bị đơn bà Trần Thị L.

Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2025 là 41.476.639 đồng, trong đó: Nợ gốc: 22.548.407 đồng; Lãi trong hạn: 5.615.855 đồng; Lãi quá hạn: 12.802.692 đồng; Lãi chậm trả: 509.685 đồng; đồng thời bị đơn bà Trần Thị L có nghia vụ trả tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho nguyên đơn theo mức lãi suất quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 cho đến khi bị đơn trả nợ xong.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.073.832 đồng.

Nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 1 của Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ các Điều 117, Điều 119, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 3, Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ Nghị quyết 04/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hương dân một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hương dân áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng vơi bị đơn bà Trần Thị L.

1.1. Buộc bà Trần Thị L có trách nhiệm thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) số tiền tạm tính đến ngày 08/8/2025 theo Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 là 41.476.639 (bốn mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi chín) đồng; trong đó: nợ gốc: 22.548.407 đồng; lãi trong hạn: 5.615.855 đồng; lãi quá hạn: 12.802.692 đồng; lãi chậm trả: 509.685 đồng.

1.2. Kể tư ngày 09/8/2025, bà Trần Thị L còn phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4389892 lập ngày 11/3/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc nêu trên. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo tưng thời ky của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) thì lãi suất mà bà Trần Thị L phải tiếp tục thanh toán cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp vơi sự điều chỉnh lãi suất của Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam).

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

2.1. Bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.073.832 (hai triệu không trăm bảy mươi ba nghìn tám trăm ba mươi hai) đồng.

2.2. Hoàn lại cho Công ty tài chính trách nhiệm hữu hạn một thành viên M (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 707.808 (bảy trăm lẻ bảy nghìn tám trăm lẻ tám) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0052140 ngày 24 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể tư ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể tư ngày được giao bản án hoặc tư ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ