- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hạng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2023/HS-ST Ngày 25-7-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La:
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Việt Huấn và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Th y Linh, Th k Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiệp, Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La:
Người tiến hành tố tụng:
- Kiểm sát viên: Ông Hoàng Văn Nghĩa.
- Th k Tòa án: Ông Hà Văn Yến.
Người tham gia tố tụng khác:
Cán bộ, chiến sỹ thuộc cơ sở giam giữ: Ông Ngần Tuấn Linh, ông Hà Văn Yên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ l số 179/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đ a vụ án ra xét xử sơ thẩm số 174/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Hạng A C, sinh ngày 06/5/1989 tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nơi c trú: Bản B, xã L, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Mông; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Hạng A K (đã chết) và bà Giàng Thị S; bị cáo có vợ là M a Thị D và có 03 con; tiền án: Ngày 23/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng t về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2023. Có mặt tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/5/2023, tổ công tác Công an xã Chiềng Khừa phối hợp với Đồn biên phòng cửa khẩu Lóng Sập làm nhiệm vụ tại bản Căng Tỵ, xã Chiềng Khừa, huyện Mộc Châu tiến hành kiểm tra đối với Hạng A C đang đi bộ trên đ ờng dân sinh. Qua kiểm tra phát hiện C đang cất giấu trong ng ời 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng bột màu trắng nghi là ma túy, loại Heroine. Hạng A Cg khai nhận đó là gói ma túy của C cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Hạng A C, tổ công tác đã lập biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Hạng A C bàn giao cho cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra, làm rõ.
Ngày 26/5/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành cân tịnh, xác định khối l ợng chất bột màu trắng có khối l ợng 0,13 gam. Lấy toàn bộ làm mẫu tr ng cầu giám định, mẫu có ký hiệu “C”.
Tại Kết luận giám định số 1248 ngày 30/5/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphin; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng 0,13 gam, loại Heroine”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hạng A C khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy, ngày 23/5/2023 C đi bộ đến bản Buốc Quang, xã Lóng Sập mục đ ch tìm mua ma túy mang về sử dụng, đến nơi C gặp và hỏi mua đ ợc của một ng ời phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 01 cục Heroine với giá 10.000 đồng. Sau khi mua đ ợc ma túy C đã mang về nhà và sử dụng 02 lần, số còn lại C gói lại và cất đi, đến ngày 25/5/2023 C cất giấu số Heroine còn lại vào trong ng ời rồi đi làm n ơng, trên đ ờng đi đến khu vực bản Căng Tỵ, xã Chiềng Khừa gặp tổ công tác Công an xã Chiềng Khừa kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Đối với ng ời phụ nữ đã bán ma túy cho Hạng A C nh C khai nhận. Quá trình điều tra không xác định đ ợc lai lịch, địa chỉ do đó không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.
Cáo trạng số 134/CT-VKS ngày 05/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố bị can Hạng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hạng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng các căn cứ pháp luật nh sau:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Hạng A C từ 24 tháng đến 30 tháng t . Thời hạn t của bị cáo t nh từ ngày 26/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng vụ Hạng A C, bắt ngày 25/5/2023 (Một vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh nilon màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng là test thử ma túy của Hạng A C - SN: 1989. Trú tại: Bản B, L, Mộc Châu, Sơn La. Ngày 26/5/2023. Kết quả: D ơng t nh”.
3. Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội.
Sau khi Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm xử l các vấn đề của vụ án. Các bị cáo nhất tr với cáo trạng và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau c ng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ng ời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Hạng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nh đã khai tại cơ quan Điều tra. Số ma túy tổ công tác Công an xã Chiềng Khừa thu giữ của bị cáo vào ngày 25/5/2023 có nguồn gốc do bị cáo mua đ ợc của một ng ời phụ nữ dân tộc Mông không quen biết 01 gói Heroine với giá 10.000 đồng, mục đ ch sử dụng cho bản thân.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và ph hợp với biên bản bắt ng ời phạm tội quả tang do tổ công tác Công an xã Chiềng Khừa lập vào hồi 20 giờ 10 phút ngày 25/5/2023; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định số l ợng, khối l ợng, lấy mẫu giám định, niêm phong lại vật chứng đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản giữ ng ời trong tr ờng hợp khẩn cấp; bản Kết luận giám định số 1248 ngày 30/5/2023 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphin; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,13 gam. Tổng khối lượng 0,13 gam, loại Heroine”. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện, ph hợp với lời khai của ng ời làm chứng trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác của cơ quan Điều tra đã thu thập đ ợc trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ khẳng định: Ngày 25/5/2023, bị cáo đã có hành vi, tàng trữ, cất giấu trái phép 0,13 gam Heroine, mục đ ch để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 23/9/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng t về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo chấp hành xong án phạt t ngày 17/9/2021 (ch a đ ợc xóa án t ch). Ngày 25/5/2023, bị cáo lại có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép chất ma túy do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm quy định tại điểm h khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo nên đ ợc h ởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo là ng ời có nhân thân xấu, là đối t ợng nghiện chất ma túy, bản thân có 01 tiền án: Ngày 23/9/2019, Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng t về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (ch a đ ợc xóa án t ch). Sau khi trở về địa ph ơng bị cáo không coi đó là bài học để tu d ỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức mà còn tiếp tục tái phạm, bị cáo là ng ời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc cất giữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nh ng vẫn thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chế độ quản l chất ma tu của Nhà n ớc, làm ảnh h ởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa ph ơng. Do vậy, cần quyết định hình phạt nghiêm khắc và ph hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định ng ời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa thấy rằng gia đình bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là ph hợp.
[5] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với: 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng vụ Hạng A C, bắt ngày 25/5/2023 (Một vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh nilon màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng là test thử ma túy của Hạng A C - SN: 1989. Trú tại: Bản B, L, Mộc Châu, Sơn La. Ngày 26/5/2023. Kết quả: D ơng t nh”. Xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà n ớc cấm tàng trữ, cấm l u hành, vật không có giá trị sử dụng do đó cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về các vấn đề khác:
Đối với ng ời phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra không xác định đ ợc lai lịch, địa chỉ nên không đề cập đến vấn đề xử l .
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn d ới 45 ngày do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam đối với bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT Đ NH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Hạng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tu ”.
Xử phạt bị cáo Hạng A C 26 (Hai m ơi sáu) tháng t . Thời hạn t của bị cáo t nh từ ngày 26/5/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng vụ Hạng A C, bắt ngày 25/5/2023 (Một vỏ phong bì niêm phong ban đầu, một mảnh nilon màu hồng)”; 01 phong bì niêm phong mặt tr ớc ghi “Vật chứng là test thử ma túy của Hạng A C - SN: 1989. Trú tại: Bản B, L, Mộc Châu, Sơn La. Ngày 26/5/2023. Kết quả: D ơng t nh”.
3. Về án ph : Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Th ờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản l và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án buộc bị cáo Hạng A C phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Bị cáo đ ợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Sơn La; - Viện KSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THA HS; - Bị cáo; - Sở t pháp tỉnh Sơn La (khi án có hiệu lực); - L u hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |