vanban.org

Bản án 174/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1, buộc ông Trần Văn M và bà Sơn Thị Ma R phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi 33.

Ông M và bà Ma R còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh, đối với khoản nợ gốc, kể từ ngày 01/7/2023, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng. Án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1, buộc ông Trần Văn M và bà Sơn Thị Ma R phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi 33.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 11 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN KẾ SÁCH
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2023/DS-ST
Ngày: 14 – 9 – 2023
V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Kịch;

Ông Trần Hoàng Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Trung-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Quách Thị Đào-Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 276/2023/TLST-DS, ngày 11 tháng 7 năm 2023, về tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 287/2023/QĐXXST-DS, ngày 10 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 280/2023/QĐST-DS, ngày 28 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng C1 (sau đây gọi tắt Ngân hàng); Địa chỉ trụ sở: Số A, phố L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quyết T, chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí C, Chức vụ: Giám đốc Phòng giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1, tỉnh Sóc Trăng. Địa chỉ: Ấp A, thị trấn K, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (theo Quyết định ủy quyền số 7300/QĐ-NHCS, ngày 19/9/2019 của Tổng giám đốc Ngân hàng C1 “V/v Uỷ quyền tham gia tố tụng và thi hành án”).

- Bị đơn: Ông Trần Văn M

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Sơn Thị Ma R

Cùng địa chỉ: Ấp C, X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 07/7/2023 và các tài liệu, chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Chí C trình bày:

Thực hiện các chương trình tín dụng cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện C1 đã xem xét và thỏa thuận cho vay với lãi suất ưu đãi,…để giải quyết khó khăn và phát triển kinh tế hộ gia đình ở địa phương.

Vào ngày 11/11/2009, Ngân hàng phê duyệt cho hộ ông Trần Văn M, vay số tiền 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), lãi suất: 0,25%/tháng, thời hạn cho vay: 120 tháng, kỳ hạn trả nợ: 12 tháng/lần, hạn trả cuối cùng là ngày 11/10/2019, của Chương trình cho vay: Hộ nghèo về nhà ở (QĐ 167), mục đích sử dụng vốn: Xây dựng nhà ở.

Tiếp tục đến ngày 28/4/2016, Ngân hàng phê duyệt cho hộ ông Trần Văn M, vay số tiền 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng), lãi suất: 0,55/tháng, thời hạn cho vay: 60 tháng, kỳ hạn trả nợ: 12 tháng/lần, hạn trả cuối cùng là ngày 11/4/2021, của Chương trình cho vay: Hộ nghèo, mục đích sử dụng vốn: Cải tạo vườn mận.

Tổng cộng hộ ông Trần Văn M đã vay 26.000.000 đồng. Nhưng trong quá trình thực hiện hợp đồng, hộ ông Trần Văn M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (kể cả vốn gốc và tiền lãi), theo thỏa thuận. Tính đến nay, hộ ông Trần Văn M đã trả nợ gốc là 0 đồng, trả lãi 3.587.682 đồng. Tổng cộng số tiền còn nợ là 33.032.000 đồng, trong đó: vốn gốc 26.000.000 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 30/6/2023 7.032.000 đồng. Mặc dù về phía Ngân hàng đã phối hợp với chính quyền địa phương, Hội đoàn thể vận động gia đình thực hiện nghĩa vụ để thu hồi nợ về cho Nhà nước, nhưng không có kết quả.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Trần Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Sơn Thị Ma R có trách nhiệm hoàn trả tổng số tiền là 33.032.000 đồng (trong đó vốn gốc 26.000.000 đồng, tiền lãi 7.032.000 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi thi hành xong khoản nợ, theo mức lãi suất của hợp đồng vay.

*Bị đơn ông Trần Văn M và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Sơn Thị Ma R đều từ chối tham gia tố tụng và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, các đương sự vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện của nguyên đơn, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

- Về tố tụng:

Tại phiên tòa, các đương sự ông Trần Văn M và bà Sơn Thị Ma R, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng đều vắng mặt không rõ lý do; ông Nguyễn Chí C vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Giữa Ngân hàng và hộ ông Trần Văn M có thoả thuận và giao kết hợp đồng vay tài sản với nhau trên cơ sở tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, các bên tham gia giao dịch đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Hiện nay, hộ ông M còn nợ Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi 33.032.000 đồng, đây là các tình tiết sự kiện không cần phải chứng minh theo Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và phải chịu lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật này quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay:“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn…”.

Tại khoản 1 Điều 351 và Điều 357 của Bộ luật này quy định Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ và Trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ”; “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này;…”.

Do hộ ông M đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, cho nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông M và bà Sơn Thị Ma R phải thanh toán vốn vay và lãi cho Ngân hàng T1 33.032.000 đồng, là có căn cứ chấp nhận, phù hợp với quy định tại các điều 280, 351, 357, 166, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.

Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông M và bà Ma R phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả vốn vay và lãi cho Ngân hàng tổng cộng 33.032.000 đồng. Đồng thời tiếp tục tính lãi phát sinh theo Hợp đồng đã ký, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng.

Đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tại phiên tòa, là có căn cứ chấp nhận, theo như nhận định và phân tích nêu trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm c khoản 1 Điều 11 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

- Buộc ông M và bà Ma R phải chịu: 33.032.000 đồng x 5% = 1.651.600 đồng.

- Ngân hàng không phải chịu án phí và cũng không phải nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 92, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, các khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 280, 351, 357, 166, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, khoản 1 Điều 30 và khoản 2 Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Các điều 91 và 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Điểm c khoản 1 Điều 11 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng C1, buộc ông Trần Văn M và bà Sơn Thị Ma R phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi 33.032.000 đồng, trong đó tiền vốn 26.000.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 30/6/2023 là 7.032.000 đồng.

2. Ông M và bà Ma R còn phải tiếp tục chịu tiền lãi phát sinh, đối với khoản nợ gốc, kể từ ngày 01/7/2023, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng, theo mức lãi suất mà hai bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Buộc ông M và bà Ma R phải chịu 1.651.600 đồng.

- Ngân hàng không phải chịu và cũng không phải nộp tạm ứng án phí.

4. Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ