vanban.org

Bản án 174/2022/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hà Đông, TP. Hà Nội Tuyên án 28/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Dương Thị Thanh T đều phạm tội “Đánh bạc”.

Về điều khoản áp dụng và hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Văn Trung và đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Dương Thị Thanh T đều phạm tội “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN H
THÀNH PHỐ H

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2022/HS-ST
Ngày: 28/7/2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H

THÀNH PHỐ H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Vương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phúc T,

2. Ông Trương Công T.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương A, Thư ký Tòa án nhân dân

quận H, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H tham gia phiên toà: Bà

Nguyễn Phương N, Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H. Tòa án nhân dân quận H xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 141/2022/HSST ngày 31 tháng 5 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2022, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn T, SN: 1962; giới tính: Nam; HKTT: Số 28 phố Vũ VVC, tổ dân phố VP, phường VP, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 5/10; Con ông Đỗ Văn B (đã chết); con bà Nguyễn Thị X (đã chết); Vợ: Tống Thị S, SN: 1970; Con: có 02 con (lớn, SN: 1998, nhỏ, SN: 2004); Tiền án tiền sự: không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

2. Dương Thị Thanh T, SN: 1971; giới tính: Nữ; HKTT: Thôn C, xã TH, huyện T, thành phố H; trú tại: Số 4 AS, tổ 3, phường ML, quận H, thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo, đảng phái: không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Dương Đăng K (đã chết); con bà Nguyễn Thị D, SN: 1950; Chồng: Nguyễn Bá Q, SN:1965; Con: có 02 con (lớn, SN: 1991, nhỏ, SN: 2007); Tiền án tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 24/01/2022 đến ngày 27/01/2022, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 10 phút ngày 24/01/2022, tổ công tác Công an quận H tuần tra kiểm soát khu vực phường ML, quận H, phát hiện tại số 4 AS, tổ 3, phường ML, quận H có biểu hiện nghi vấn hoạt động đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính đối với Dương Thị Thanh T, là chủ nhà đang bán quán nước trong nhà, phát hiện T có hành vi ghi số lô, đề cho khách chơi trực tiếp đến quán và khách chơi nhắn tin qua điện thoại.

Vật chứng đã thu giữ gồm: - 01 tờ lịch cũ, mặt sau có ghi số lô, đề; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4, màu đen, số imei: 012654007816648; số tiền 1.300.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành, thu giữ của Dương Thị Thanh T;

- 01 tích kê, kích thước 10x7cm, bên trong có ghi số đề 55-22-82-00, mỗi số bằng 22.000 đồng và số lô 03-30-25-52, mỗi số 05 điểm, thu giữ của Đoàn Văn T;

- 01 tích kê, kích thước 10x7cm, bên trong có ghi số đề 38, 51, thu giữ của Bùi Đăng T.

Quá trình điều tra đã chứng minh được cụ thể như sau:

Khoảng đầu năm 2019, thông qua chồng là Nguyễn Bá Q sinh năm: 1965, Dương Thị Thanh T, có quan hệ quen biết với Đỗ Văn T. Lúc này, T đang bán hàng nước tại nhà ở địa chỉ trên, biết T nhận số lô, đề nên T đặt vấn đề với T sẽ ghi số lô, đề tại quán nước và chuyển lại cho T để hưởng tiền hoa hồng (chênh lệch). T cho T số điện thoại của T để T nhắn tin, chuyển bảng cho T các số lô, đề ghi cho khách. T và T thỏa thuận như sau: Hàng ngày, T gom bảng số lô, đề của khách chơi sau đó chuyển cho T, T sử dụng số điện thoại 0984137943, T sử dụng số điện thoại 0912842060. Đối với số đề, nếu người chơi đánh 10.000 đồng tiền đề, T sẽ ghi thành 11.000 đồng hoặc nếu ghi 10.000 đồng tiền đề thì T sẽ thu của người chơi 9.000 đồng. Nếu trúng đề thì người chơi được gấp 70 lần số tiền đánh, đối với số lô thường, 01 điểm lô T thu của người chơi 22.500 đồng thì T chuyển cho T với giá 22.000 đồng/1 điểm, nếu trúng lô thì người chơi được 80.000 đồng/1 điểm. Đối với số lô xiên (xiên 2, 3, 4) thì T ghi số cho người chơi và chuyển lại cho T theo thỏa thuận cứ 10.000 đồng tiền ghi đề, ghi lô xiên T chuyển lại cho T 7.500 đồng, nếu trúng lô xiên 2, 3, 4 thì người chơi sẽ được tương ứng gấp 10, 40, 100 lần số tiền đánh. Việc chốt thắng, thua hàng ngày được tính theo kết quả xổ số miền Bắc, T sẽ chốt lại với T, ngày hôm sau, T sẽ đến nhà T thanh toán trực tiếp, nếu số tiền được thua ít thì vài ngày sẽ thanh toán một lần. Ngày 24/01/2022, tại quán nước nhà T ở số 4 AS, tổ 3, phường ML, quận H, T đã ghi số lô, đề trực tiếp cho khách đến quán và khách chơi nhắn tin qua điện thoại, sau đó T đã chuyển số lô, đề đã ghi của khách cho T qua tin nhắn điện thoại. Trong đó, đã làm rõ được các khách chơi số lô, đề của T vào ngày 24/01/2022 như sau:

- Nguyễn Thị A (Sinh năm: 1974; HKTT: Số 50 TP, phường ML, H, HN) A nhắn tin cho T đánh 04 số lô (13, 31, 38, 83), mỗi số 50 điểm, tổng số tiền A sử dụng vào việc đánh bạc là 4.500.000 đồng, Nguyễn Thị A chưa thanh toán số tiền trên cho T.

- Bùi Đăng T (Sinh năm: 1958; HKTT: Số 12 AS, tổ 3, phường ML, H, HN), T đánh 02 số đề (38, 51), mỗi số 55.000 đồng (ghi vào bảng tích kê), tổng số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc là 110.000 đồng, số tiền thực tế T đã thanh toán cho T là 100.000 đồng.

- Đoàn Văn T (Sinh năm:1980; HKTT: Thôn Đ, xã PD, huyện P, HN), T đánh 04 số đề (55, 22, 82, 00), mỗi số 22.000 đồng, tương ứng 88.000 đồng và 04 số lô (03, 30, 25, 52), mỗi số 05 điểm, tương ứng 450.000 đồng (ghi vào bảng tích kê), tổng số tiền T sử dụng vào việc đánh bạc là 538.000 đồng, số tiền thực tế T đã thanh toán cho T là 530.000 đồng.

- Uông Sỹ D (Sinh năm: 1975; HKTT: Tổ 3, phường ML, quận H, HN) D đánh 4 số lô, mỗi số 50 điểm, tương ứng 4.500.000 đồng (qua tin nhắn điện thoại, D sử dụng số điện thoại 0904263786 chuyển số lô, đề cho T), tổng số tiền D sử dụng vào việc đánh bạc là 4.500.000, D chưa thanh toán cho T.

Ngoài ra, T còn ghi số lô, đề cho khách qua đường (không rõ tên tuổi, địa chỉ) đến quán nước của T và đã thu tiền của khách: 01 số lô (76), 20 điểm; 10 số đề (30, 31, 32, 33, 34, 35, 36, 37, 38, 39), mỗi số 10.000 đồng (khuyến mại ghi trên tích kê cho khách là 11.000 đồng); 10 số đề (03, 13, 23, 33, 43, 53, 63, 73, 83, 93), mỗi số 5.000 đồng; 01 số đề (35), 50.000 đồng (khuyến mại ghi trên tích kê cho khách là 55.000 đồng) và 02 số đề (36, 37), mỗi số 10.000 đồng (khuyến mại ghi trên tích kê cho khách là 11.000 đồng). Số tiền T thu của các khách (không rõ tên tuổi, địa chỉ) là 670.000 đồng.

Tổng số tiền lô, đề của khách trên bảng và trong tin nhắn là: 10.335.000 đồng, trong đó tiền số đề là 435.000 đồng, tiền số lô là 9.900.000 đồng. Tổng số tiền khách phải thanh toán cho T là: 10.300.000 đồng, trong đó tiền số đề là 400.000 đồng, tiền số lô là 9.900.000 đồng. Tổng số tiền lô, đề trên bảng và trong tin nhắn mà T đã chuyển cho T là: 10.115.000 đồng. Tổng tiền thực tế T thu của T là 10.006.250 đồng, trong đó tiền số đề là 326.250 đồng, tiền số lô là 9.680.000 đồng. Các bảng ghi số lô, đề, T đã chuyển lại cho T qua tin nhắn điện thoại, T nhắn ‘Ok” xác nhận đã nhận bảng lô đề của T chuyển, nhưng khi chưa có kết quả xổ số Miền Bắc thì bị Công an quận H kiểm tra hành chính phát hiện bắt giữ, T chưa thanh toán số tiền trên cho T.

Ngày 24/01/2022 và ngày 02/3/2022, Dương Thị Thanh T, Đỗ Văn T, đã đến Công an quận H, xin đầu thú và khai nhận hành vi vi phạm của mình.

Chiếc điện thoại di động Đỗ Văn T sử dụng làm phương tiện nhận tin nhắn chuyển bảng số lô, đề từ Dương Thị Thanh T. T khai nhận đã làm mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Quá trình điều tra, Dương Thị Thanh T, Đỗ Văn T khai nhận: trước đó nhiều lần ghi số lô, đề cho khách và chuyển bảng lô, đề cho T để hưởng chênh lệch. Tuy nhiên, sau các lần thanh toán tiền được thua xong T và T đã xóa và hủy các bảng số lô, đề, tin nhắn, T và T không nhớ khách đến chơi số lô, số đề, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Tại cáo trạng số: 133/CT-VKS-HĐ ngày 30/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, truy tố bị cáo Đỗ Văn T và Dương Thị Thanh T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo Đỗ Văn T và Dương Thị Thanh T đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, các bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.

*Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn T và Dương Thị Thanh T đều phạm tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, (Điều 65 Đối với bị cáo T), (Điều 35 Đối với bị cáo T), Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; Xử phạt bị cáo Dương Thị Thanh T từ 20 đến 30 triệu đồng; Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện để thi hành án, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu số tiền 1.300.000 đồng và phát mại sung công quỹ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 24/01/2022, tại quán nước ở số 4 AS, tổ 3, phường ML, quận H, Dương Thị Thanh T đã có hành vi nhận ghi số lô, đề cho khách đến chơi trực tiếp tại quán và khách chơi nhắn tin qua điện thoại (gồm: Nguyễn Thị A, Bùi Đăng T, Đoàn Văn T, Uông Sỹ D và một số khách không rõ nhân thân), với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 10.335.000 đồng, sau đó T chuyển bảng lô đề cho Đỗ Văn T qua tin nhắn điện thoại để hưởng tiền chênh lệch, đến khoảng 18 giờ 10 phút cùng ngày thì bị Công an quận H kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ vật chứng.

Hành vi trên của các bị cáo Đỗ Văn T và Dương Thị Thanh T đều phạm tội “Đánh bạc”, Viện kiểm sát nhân dân quận H, đã truy tố các bị cáo với tội danh trên theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Vì vậy cần có mức hình phạt nghiêm khắc để giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử xem xét vai trò của các bị cáo cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, cụ thể như sau:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú, do vậy Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

Xét bị cáo T có vai trò lớn hơn trong vụ án, nên phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T. Tuy nhiên xét bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến anh ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xét bị cáo T có vai trò thấp hơn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét chỉ cần áp dụng mức hình phạt tiền, như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập kinh tế không ổn định, bị cáo T đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính, như vậy là đã thỏa đáng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4, màu đen, số imei: 012654007816648, lắp sim số 0984.137.943; và tịch thu sung công số tiền 1.300.000 đồng.

. Về các vấn đề khác: Đối với các khách (không rõ tên tuổi, địa chỉ) mua số lô, đề của T, là khách qua đường T không quen biết, không có sổ sách gì ghi chép lại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với Nguyễn Thị A, Bùi Đăng T, Đoàn Văn T, Uông Sỹ D thực hiện hành vi đánh bạc với số tiền đều dưới là 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra, xác định: Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị A, Bùi Đăng T, Đoàn Văn T, Uông Sỹ D đều chưa đủ yếu tố cấu thành tội: Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 320 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nên ngày 09/5/2022, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận H ra quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Thị A, Bùi Đăng T, Đoàn Văn T, Uông Sỹ D về hành vi Đánh bạc mức phạt là 350.000 đồng, một người là phù hợp. Đối với các số tiền vi phạm này, cơ quan Điều tra có trách nhiệm xử lý theo theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Bá Q, chồng của Dương Thị Thanh T, kết quả điều tra xác định: Q không biết việc T và Đỗ Văn T đánh bạc nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.

.Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án.

.Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T và bị cáo Dương Thị Thanh T đều phạm tội “Đánh bạc”.

2. Về điều khoản áp dụng và hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, (Điều 65 đối với bị cáo Đỗ Văn T), (Điều 35 đối với bị cáo Dương Thị Thanh T), Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Giao bị cáo Đỗ Văn T cho Ủy ban nhân dân phường VP, quận H, thành phố H, để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2.2. Xử phạt bị cáo Dương Thị Thanh T 25.000.000 đồng, (Hai mươi lăm triệu đồng).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu phát mại sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 4, màu đen, số imei: 012654007816648, lắp sim số 0984.137.943; tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 1.300.000 đồng.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/7/2022 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Thành phố H với Chi cục Thi hành án dân sự quận H, Thành phố H.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Đỗ Văn T và Dương Thị Thanh T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ