- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh T - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2022/HS-ST Ngày: 20-09-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Mai
2. Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt – Thư ký Tòa
án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Oanh– Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 09 năm 2022 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 169/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 08 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 222/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 09 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Thanh T, sinh ngày 17/12/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nghề
nghiệp: Thợ hồ; cư trú tại: đường Mã Lò, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1960 và bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1963; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Lê Thị Hồng G, sinh năm 1993, và 02 con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 07/04/2022; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồng Phụ Đ, sinh năm 1961; cư
trú tại: đường Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, quận 1 Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00, ngày 07/4/2022, T đang làm thợ hồ tại quận Tân Phú thì có một người thanh niên tên là Đ (không rõ lai lịch, quen biết ngoài xã hội) dùng điện thoại số xxxxxxxxxx gọi vào điện thoại di động số xxxxxxxxxx của T, nói có khách cần mua “10 số” ma túy tổng hợp (hàng đá). T đồng ý đi tìm mua ma túy để bán cho khách của Đ giới thiệu. T sử dụng điện thoại di động của mình vào mạng xã hội Zalo, sử dụng tài khoản tên “T Lê” liên lạc với 01 người (không rõ lai lịch, có tài khoản Zalo tên “Trần Thanh H” và người này có sử dụng điện thoại số xxxxxxxxxx) hỏi mua “10 số” ma túy tổng hợp (hàng đá), thì “Trần Thanh H” đồng ý bán ma túy cho T với số tiền là 4.500.000 đồng, rồi hẹn gặp T đến khu vực đường Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú để giao ma túy và nhận tiền. Sau khi gọi điện thoại cho “Trần Thanh H” xong, T gọi điện thoại thông báo lại cho Đ biết giá mua “10 số” ma túy tổng hợp (hàng đá) là 4.500.000 đồng và thỏa thuận với Đ giá bán lại cho người khách mà Đ giới thiệu là 4.900.000 đồng. Số tiền hưởng lợi tổng cộng 400.000 đồng thì Đ và T cùng đồng ý chia đôi, Đ được hưởng tiền công giới thiệu là 200.000 đồng và T được hưởng lợi 200.000 đồng. Sau đó, Đ dùng mạng xã hội Zalo với tài khoản “NO LOVE NO DIE” nhắn tin vào tài khoản zalo “T Lê” của T thông báo cho T biết là người mua ma túy tên là T sử dụng số điện thoại số xxxxxxxxxx và đã hẹn nơi giao ma túy, nhận tiền với T là tại đầu hẻmđường Thống Nhất, phường 10, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thỏa thuận xong và nhận được tin nhắn về thông tin người khách mua ma túy, T một mình điều khiển xe máy biển số 59T2-053.30, đi đến khu vực đường Vườn Lài, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú gặp một thanh niên (không rõ lai lịch) đi xe gắn máy hiệu EXCITER, màu xanh (T không nhớ rõ biển số) nhận của người thanh niên này 01 gói giấy bên trong đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (hàng đá) và đưa số tiền 4.500.000 đồng cho người thanh niên này. Sau khi mua được ma túy, người thanh niên bán ma túy đi đâu không rõ, còn T cất giấu gói ma túy vừa mua được trong giỏ xách đặt ở chỗ để chân tại vị trí giữa xe máy biển số 59T2-053.30 mà T đang điều khiển, rồi chạy xe đi đến điểm hẹn để bán ma túy cho T. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T điều khiển xe máy biển số 59T2-053.30 đến đầu đường Thống Nhất, phường 10, quận Gò Vấp thì bị Tổ công tác Công an phường 10, quận Gò Vấp kết hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Ma Túy, Công an quận Gò Vấp dừng xe kiểm tra, phát hiện trong giỏ xách ở chỗ để chân của T đang để tại vị trí giữa xe gắn máy biển số 59T2-053.30 có 01 gói giấy bên trong đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy tổng hợp (hàng đá) của T vừa mới mua được đem đi bán cho T như đã nêu trên. Tổ công tác đã tiến hành thu giữ, niêm phong vật chứng, đưa T về Cơ quan Công an lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 29 -30).
Tang vật thu giữ:
-
01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thanh T và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp được đựng trong giỏ xách bằng nhựa. Bên trong có 01 (một) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu.
-
01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone số sim xxxxxxxxxx.
-
01 (một) xe gắn máy biển số 59T2 – 05330, số khung LWBTDH10871016858, số máy WH150MH07F00072.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Gò Vấp, Lê Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (BL 50 – 64).
Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận Gò Vấp đã thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Thanh T tại địa chỉ: đường Mã Lò, phường Bình Trị Đông A, quận Bình Tân nhưng không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy (BL 18 – 21).
Đối với người thanh niên tên Đ đã giới thiệu người mua ma túy cho T, người nam thanh niên có tài khoản mạng xã hội Zalo tên “Trần Thanh H” đã bán ma túy cho T và người nam thanh niên tên T hỏi mua ma túy, các đối tượng này có sử dụng các số điện thoại xxxxxxxxxx, xxxxxxxxxx, xxxxxxxxxx. Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an quận Gò Vấp đã gửi văn bản đến các Tổng công ty viễn thông Vinafone, Mobifone yêu cầu cung cấp thông tin chủ thuê bao của các số điện thoại trên, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được kết quả trả lời. Do vậy chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Đ, “Trần Thanh H” và T, Cơ quan Cảnh sát điều tra sẽ tiếp tục điều tra xác minh, khi nào xác định được lai lịch, có đủ tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các đối tượng sẽ xử lý sau.
Căn cứ Kết luận giám định số: 2097/KLGĐ-H ngày 15/4/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma tuý ở thể rắn có khối lượng: 9,9286 gam, loại Methamphetamine.
Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói tinh thể không màu có khối lượng 9,7727g được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone, số sim: xxxxxxxxxx là phương tiện của Lê Thanh T sử dụng để liên hệ mua, bán ma túy và 01 giỏ xách.
- Đối với chiếc xe máy biển số: 59T2 - 053.30; số máy: WH150MH-07F00072; số khung: LWBTDH10871016858. Kết quả xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông, Công an quận Gò Vấp xác định chủ sở hữu là anh Hồng Phụ Đ, sinh năm: 1961; Nơi thường trú: đường Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh T khai nhận: Chiếc xe máy biển số 59T2 – 053.30 là do T mua lại của một người quen biết ngoài xã hội, không rõ họ tên, lai lịch vào khoảng tháng 9 năm 2021. Do người bán xe làm mất giấy tờ liên quan đến chiếc xe và cam đoan với T xe không bị tránh chấp hay mất trộm gì nên T đồng ý mua để làm phương tiện đi làm. Sau đó, T đã sử dụng xe máy này để làm phương tiện hoạt động mua bán ma túy. Đến nay, T cũng chưa liên hệ lại với người bán, chủ sở hữu xe máy để làm thủ tục đăng ký chủ sở hữu chiếc xe máy này. Qua làm việc, anh Hồng Phụ Đ khai nhận: Bản thân anh mua chiếc xe máy này vào năm 2017 để làm phương tiện đi làm. Đến năm 2018, anh Đ đã cầm cố chiếc xe máy trên cho một cửa hàng cầm đồ (thời gian qua đã lâu nên anh Đ không nhớ tên và địa chỉ của cửa hàng cầm đồ). Do kinh tế khó khăn nên anh Đ bỏ xe, không liên hệ cửa hàng cầm đồ để lấy lại xe. Đồng thời, từ khi cầm xe đến nay, không có ai liên hệ với anh để làm thủ tục sang tên chủ sở hữu xe. Anh Đ cũng không rõ chiếc xe máy biển số 59T2 - 053.30 được bán cho ai và ai là người đang sử dụng.
Bản cáo trạng số 162/Ctr-VKS ngày 23/08/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố Lê Thanh T về tội mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo phạm tội mua bán trái phép chất ma túy; áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 07 đến 08 năm tù.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, số
sim: xxxxxxxxxx bị cáo sử dụng để liên hệ mua, bán ma túy.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe máy biển số: 59T2 - 053.30;
số máy: WH150MH-07F00072; số khung: LWBTDH10871016858.
- Trả lại cho bị cáo 01 giỏ xách, nhưng bị cáo không nhận lại, nên đề nghị
Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy.
Bị cáo không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo
được hưởng mức án khoan hồng vì đã nhận thức được hành vi sai phạm của mình và quyết tâm sửa chữa, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh
tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Kiểm sát viên thực hiện hành vi, quyết định tố tụng, thu thập chứng cứ, tài liệu theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình T hành tố tụng và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng, việc thu thập chứng cứ, tài liệu của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp
công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của
Công an quận Gò Vấp, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của Lê Thanh T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản
lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh ra nhiều tội phạm khác.
Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán
trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên mua bán trái phép chất ma tuý, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo mua rồi sau đó bán lại cho đối tượng nghiện tên T với giá 4.900.000 đồng, qua giám định có khối lượng khối lượng 9,7727 gram loại Methamphetamine nên Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là có cơ sở. Vì vậy đối với bị cáo cần phải có mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài , nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội. [5] Về tình tiết tăng nặng: Không có; Về Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Được qui định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật
Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xét tính chất
và hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử không phạt bổ sung
đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với Số ma túy còn lại sau giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê
Thanh T và hình dấu Công an phường 10, quận Gò Vấp qua giám định là ma túy loại Methamphetamine là vật cấm mua bán, lưu hành trái phép nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với chiếc xe máy biển số: 59T2 - 053.30; số máy: WH150MH-
07F00072; số khung: LWBTDH10871016858. Kết quả xác minh tại Đội Cảnh sát giao thông, Công an quận Gò Vấp xác định chủ sở hữu là anh Hồng Phụ Đ, sinh năm: 1961; Nơi thường trú: đường Nguyễn Cảnh Chân, phường Cầu Kho, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, anh Đ đã bán cho 01 người không rõ lai lịch, nhưng chưa làm thủ tục mua bán, Bị cáo mua chiếc xe trên không có làm giấy tờ mua bán để làm phương tiện đi lại, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, số sim: xxxxxxxxxx bị cáo
dùng để liên lạc mua ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 giỏ xách thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án, nhưng bị
cáo không nhận lại, nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy
- Đối với người bán ma túy và người mua ma túy của bị cáo do chưa xác định
được nhân thân lai lịch, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều
136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38
của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017,
Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 07(bảy) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 04 năm 2022.
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động hiệu Iphone, số
sim: xxxxxxxxxx .
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước chiếc xe máy biển số: 59T2 - 053.30; số
máy: WH150MH-07F00072; số khung: LWBTDH10871016858.
- Tịch thu và tiêu huỷ 01 gói niêm phong bên trong chứa ma túy còn lại sau
giám định, bên ngoài có chữ ký ghi tên Lê Thanh T và hình dấu Công an Phường 10, quận Gò Vấp qua giám định là ma túy loại Methamphetamine.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 giỏ xách.
(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 91/PNK ngày 11/07/2022 của cơ quan cảnh
sát điều tra công an quận Gò Vấp).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi
hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - Viện kiểm sát; - Chi cục THADS Q. Gò Vấp; - Công an Q. Gò Vấp; - Người tham gia tố tụng; - Sở Tư pháp TP.HCM; - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Tường Linh |