- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2022/HS-ST Ngày: 23 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đồng Vũ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Hưng Quang.
2. Ông Nguyễn Trọng Di.
- Thư ký phiên tòa: Ông Văn Hồng Lễ, Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trương Vĩnh Vinh, Kiểm sát viên.
Ngày 23/11/2022, tại Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 164/2022/TLST-HS ngày 26/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2022/QĐXXST-HS ngày 03/11/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị M, sinh năm 1992, tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố a, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thành H và bà Lê Thị C; Có chồng Nguyễn Ngọc Khánh L và 02 con (sinh năm 2014 và 2017); Tiền án, tiền sự: Không:
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/10/2022 đến ngày 07/01/2023, có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh năm 1988 (có mặt)
Địa chỉ: Khu phố a, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 21/9/2022 Nguyễn Thị M đi chợ Liên Hương thì gặp người bạn tên Hiền (không rõ lai lịch) cho 01 gói ma túy đá, M cất giấu gói ma túy đá trong người nhằm mục đích sử dụng. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, M nhờ chồng là Nguyễn Ngọc Khánh L điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Future, biển số 86B1-578.96 chở đến Trung tâm y tế huyện Tuy Phong để thăm bạn. Khi đến gần nhà nghỉ Việt Nga ở khu phố 3 thị trấn L, huyện Tuy Phong, Mai nhìn thấy lực lượng Công an thị trấn L đang tuần tra ra hiệu lệnh dừng xe nên M lấy gói ma túy đá đang cầm trên tay phải ném xuống đường nhựa thì bị bắt quả tang. Thu giữ dưới đường nhựa cách vị trí M đứng khoảng 01 mét có 01 gói nylon không màu được hàn kín, kích thước khoảng 01 x 03 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (ký hiệu M), M khai nhận tinh thể màu trắng là ma túy đá của M cất giấu nhằm mục đích sử dụng, khi nhìn thấy lực lượng Công an do lo sợ nên ném xuống đường nhựa. Thu giữ của Nguyễn Ngọc Khánh L 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future, biển số 86B1-578.96.
Căn cứ bản Kết luận giám định số 1021/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bình Thuận kết luận:
Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,1118 gam, là Methamphetamine.
Tại bản Cáo trạng số 168/CT-VKSTP-HS ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phi n t a ơ th :
- ki n của đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n Tuy Phong: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M từ 12 – 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về biện pháp tư pháp: Đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon cùng 0,0904 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1021 có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận do đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng.
- ki n bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu là đúng, không oan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 21/9/2022 tại khu phố 3, thị trấn L, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Nguyễn Thị M bị bắt quả tang có hành vi cất giữ 0,1118 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng, đây là hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, tiếp tay cho những phần tử xấu duy trì tệ nạn ma túy đi ngược lại lợi ích chung của toàn xã hội, nhận thấy các tội phạm về ma túy trên địa bàn huyện Tuy Phong ngày càng nhiều và ma túy cũng là nguyên nhân của một số loại tội phạm khác, do đó cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về biện pháp tư pháp:
Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda loại Future, biển số 86B1-578.96 cho chủ sở hữu là Trương Thị Huệ do không liên quan đến vụ án là có căn cứ.
Đối với vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, vật chứng gồm: 01 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,0904 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1021, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
Đối với người phụ nữ đã cho bị cáo gói ma túy, do không rõ lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau là có căn cứ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị M 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
2. Về biện pháp tư pháp:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung
năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu, tiêu hủy: 01 gói nylon không màu đã cắt lấy mẫu cùng 0,0904 gam mẫu M còn lại sau giám định, được niêm phong trong phong bì số 1021, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo Nguyên và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Thuận.
(Các vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuy Phong
quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/10/2022)
3. Về án phí:
p dụng: Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Tuy Phong; - Công an huyện Tuy Phong; - Bị cáo; - Chi cục TH DS huyện Tuy Phong; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đồng Vũ |