- Tranh chấp gì? án hình sự — "BAHS Nguyễn Hùng Bá M - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng Bá M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Kể từ ngày bản án; Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 174/2021/HSST Ngày: 05/11/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Ký
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Quang Hoạch
Ông Tạ Văn Đài
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, Tòa án tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 214/2021/HSST, ngày 28/9/2021 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số:194/2021/HSST-QĐ, ngày 19/10/2021 đối với bị cáo:
Nguyễn Hùng Bá M, sinh năm 1998 tại Đồng Nai. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp BC, xã Tr, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không: Trình độ học vấn: 6/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật Giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Th, sinh năm 1975 và bà Đặng Thị Mỹ H, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt từ ngày 12/6/2021 – Bị cáo có mặt.
- Người làm chứng:
+ Anh Lương Văn Tr - Vắng mặt.
+ Anh Liêu S – Vắng mặt
+ Anh Trần Đ - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hùng Bá M là đối tượng nghiện ma túy. Vào khoảng 17 giờ ngày 12/6/2021, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên M gọi số điện thoại 0353763xxx cho đối tượng tên Cu không rõ nhân thân, lai lịch hỏi mua 500.000đ ma túy thì Cu đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Cu đưa gói thuốc lá Jet bên trong có 04 gói ma túy để bên lề đường không rõ địa điểm cụ thể, sau đó gọi điện cho M ra lấy. Sau khi tìm được gói thuốc lá Jet, M cất giấu vào túi quần trước bên phải, sau đó đi đến ấp Hưng Nghĩa, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất để nhờ Trần Đ là bạn quen biết ngoài xã hội chở M đến ấp Thuận Trường, xã Sông Thao, huyện T thì bị lực lượng Công an xã bắt quả tang, thu giữ gồm 04 gói ma túy hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô Honda màu đỏ biển số 60FC – 15.69; Số tiền 201.000đ; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng, không gắn số sim; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số sim 0933.543.xxx.
Tại bản kết luận giám định số 1203/KLGĐ – PC09 ngày 17/6/2021 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,6074g loại Methamphetamine.
Xử lý vật chứng: Đề nghị Tòa tuyên tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong ma túy sau giám định số 1203/KL – PC09 ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
+ Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, số sim 0933543.xxx là điện thoại bị cáo M sử dụng vào việc phạm tội, đề nghị Tòa án tịch thu sung công. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bị cáo số tiền 201.000đ và 01 điện thoại Samsung màu vàng do không sử dụng vào việc phạm tội. Đối với 01 xe mô tô Honda màu đỏ biển số 60FC – 1569, số máy 350520, số khung 068699 do hiện nay chưa làm việc được với chủ sở hữu nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục điều tra xác minh, xử lý sau.
Tại bản Cáo trạng số 224/CT/VKS-TB, ngày 27/9/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Hùng Bá M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T giữ nguyên nội dung cáo trạng, phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề xuất xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 21 giờ 45 phút ngày 12/6/2021, tại đoạn đường 171 thuộc ấp Thuận Trường, xã Sông Thao, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Hùng Bá M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,6074 gam ma túy loại Methamphetamine trong gói thuốc lá Jet thì bị công an xã Sông Thao, huyện T bắt quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng và các chứng cứ khác có tại hồ sơ nên có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hùng Bá M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất gây nghiện, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân và là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác nên cần phải có mức án nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nhận thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo không có tình tiết tăng nặng nên hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Cần tịch thu tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định; Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số sim 0933543xxx bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu sung công. Đối với số tiền 201.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu vàng không sử dụng vào việc phạm tội cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho bị cáo là có căn cứ; Đối với 01 xe mô tô Honda màu đỏ biển số 60FC – 1569, số máy 350520, số khung 068699 do hiện nay chưa làm việc được với chủ sở hữu nên cơ quan cảnh sát điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
Đối với người bán ma túy cho M tên Cu chưa rõ nhân thân, lai lịch, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý. Đối với hành vi của Trần Đ sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính, là có căn cứ. Đối với hành vi M nhờ Đ chở đi đến Sông Thao không liên quan đến hành vi phạm tội của M nên cơ quan điều tra không xử lý Đ là có căn cứ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét tính hợp pháp của các quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy đúng với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hùng Bá M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng Bá M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/6/2021.
2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại trong 01 phong bì niêm phong số 1203/KLGĐ - PC09 ngày 18/6/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Đồng Nai; Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen có Model 1208 đã qua sử dụng, hiện không hoạt động, không có kính màn hình kèm theo sim điện thoại có số seri 8401 1903 5057 5007 WD (theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/9/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Đồng Nai).
3. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
- Cơ quan điều tra Công an huyện T;
- Bộ phận T.H.A hình sự;
- Chi cục T.H.A dân sự huyện T
- Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
- UBND cấp xã nơi bị cáo cư trú;
- Lưu hồ sơ.
Lê Thị Ký
TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN T
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
TỈNH ĐỒNG NAI
––––––––––––––––––––––––––
–––––––––––––––
T, ngày 10 tháng 10 năm 2019
Số: 440/CV-TA
V/v: “Kiến nghị xem xét
trách nhiệm hình sự”
Kính gửi: Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Ngày 10 tháng 10 năm 2019, Tòa án nhân dân huyện T tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2019/HSST, ngày 23/9/2019 đối với bị cáo: Mai Đức Anh (tên gọi khác: Chớp, Chớp Điên), sinh năm 1990 và đồng phạm về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo Mai Đức Anh ngoài phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn có dấu hiệu của tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự nên Tòa án nhân dân huyện T đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện T xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Anh. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Mai Đức Anh chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự vì cho rằng số tiền xâu 200.000 đồng thu được tại chiếu bạc là tiền các bị cáo tự bỏ ra dùng chung cho cả nhóm để mua thức ăn, nước uống …chứ không phải Mai Đức Anh thu riêng cho bị cáo nên giữ nguyên quyết định truy tố.
Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đức Anh về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự.
Xin trân trọng cảm ơn!
| Nơi nhận: - Như trên; - Lưu hồ sơ. TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH ĐỒNG NAI ––––––––––––––– BIÊN BẢN NGHỊ ÁN Vào hồi 10 giờ 30’ ngày 10 tháng 10 năm 2019, tại: Phòng nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thị Ngọc Loan 23 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo: Mai Đức Anh và đồng phạm Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự; tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU: để điều tra bổ sung hay không: Không Kết quả biểu quyết: 3/3 viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp: Đúng quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 phải xác định rõ điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự được áp dụng: Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Thu Lan phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 thường thiệt hại; vấn đề dân sự trong vụ án hình sự: Về hình phạt: sự: Tuyên bố bị cáo Mai Đức Anh phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, nhưng được trừ đi 2 (hai) tháng 09 (chín) ngày bị cáo bị giam giữ. 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Phước Sơn phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được trừ đi 03 (ngày) bị cáo bị giam giữ. Điều 65 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Võ Văn Hòa phạm tội “Đánh bạc”; Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án. Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. phường giám sát, giáo dục có trách nhiệm thông báo cho cơ quan Thi hành án hình sự để làm thủ tục chuyển giao hồ sơ thi hành án cho UBND cấp xã, phường nơi người được hưởng án treo đến cư trú để giám sát, giáo dục. 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Vương Thị Kim Phượng phạm tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo 05 (năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án nhưng được trừ đi 03 ngày bị cáo bị giam giữ. Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu Lan phạm tội “Đánh bạc”: Xử phạt bị cáo số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). hành không đủ khoản tiền phạt thì hàng tháng còn phải chịu lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. Kết quả biểu quyết: 3/3 không: Không Kết quả biểu quyết: 3/3 khoản bị phong tỏa: Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 buộc bị cáo Mai Đức Anh, Lê Phước Sơn, Võ Văn Hòa, Vương Thị Kim Phượng, Nguyễn Thị Thu Lan mỗi người phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Hình sự: - Tịch thu tiêu hủy 01 chăn vải, 01 bộ bài tây 52 lá; triệu đồng). Kết quả biểu quyết: 3/3 viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đúng quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 8. Kiến nghị phòng ngừa tội phạm, khắc phục vi phạm: phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự còn có dấu hiệu của tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự nên Tòa án nhân dân huyện T đã trả hồ sơ để Viện kiểm sát nhân dân huyện T xem xét trách nhiệm hình sự về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo khoản 2 Điều 322 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Anh. Tuy nhiên, Viện kiểm sát cho rằng bị cáo Mai Đức Anh chỉ phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự vì cho rằng số tiền xâu 200.000 đồng thu được tại chiếu bạc là tiền các bị cáo tự bỏ ra dùng chung cho cả nhóm để mua thức ăn, nước uống …chứ không phải Mai Đức Anh thu riêng cho bị cáo nên giữ nguyên quyết định truy tố. Hội đồng xét xử kiến nghị Tòa án nhân dân cấp trên xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáo Mai Đức Anh về tội “Gá bạc hoặc tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự. Kết quả biểu quyết: 3/3 9. Các vấn đề khác: quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Kết quả biểu quyết: 3/3 Nghị án kết thúc 11h00’ cùng ngày. cùng nghe và ký tên. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Thị Ngọc Loan CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ––––––––––––––––––––––––––––––––––––––––– - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phi Hổ và ông Doãn Đức Hùng. Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 175/2019/TLST-HS ngày Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH 1. Vụ án có thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc thuộc trường hợp trả hồ sơ 2. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra 3. Có hay không có căn cứ kết tội bị cáo. Trường hợp đủ căn cứ kết tội thì Có căn cứ kết tội bị cáo Mai Đức Anh, Lê Phước Sơn, Võ Văn Hòa, Vương 4. Hình phạt, biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo; trách nhiệm bồi - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; Giao bị cáo Võ Văn Hòa cho Ủy ban nhân dân xã Đông Hòa, huyện T, tỉnh Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì UBND cấp xã, Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 - Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo không thi hành hoặc thi 5. Bị cáo có thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hay 6. Án phí hình sự, án phí dân sự; xử lý vật chứng; tài sản bị kê biên, tài 6.1. Về án phí: Căn cứ điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 6.2 Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước số tiền: 60.800.000 đồng (Sáu mươi tám 7. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát Trong quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thì thấy bị cáo Mai Đức Anh ngoài Về quyền kháng cáo: Báo cho các bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |