- Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh su - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia
- Căn cứ chính? Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 174/2021/HS-ST Ngày: 06/12/2021 |
NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Duy Tuyên
2. Ông Nguyễn Văn Đạo
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hƣơng – Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Bà
Phạm Thanh Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn,
Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:
184/2021/TLST-HS ngày 12/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
184/2021/QĐXXST-HS ngày 17/11/2021; Quyết định hoãn phiên tòa số
84/2021/TA-QĐ ngày 29/11/2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Văn T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 21/12/1995, tại
Hà Nội; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện Sóc Sơn, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 11/12;
Họ và tên bố: Phạm Văn H, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Lưu Thị T, sinh năm
1966; Anh, chị, em ruột: Gia đình có 02 anh chị em, bị can là con thứ hai; Vợ, con:
Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Hiện bị can đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú tại
xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Trịnh Quang Q, sinh năm 1964, trú tại Khối 14, xã P, huyện Sóc
Sơn, Hà Nội (đã chết).
Ngƣời đại diện hợp pháp của bị hại:
1. Bà Đinh Thị T; sinh năm 1967; Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Trinh Quang T; sinh năm 1992; Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Chị Trịnh Thị H; sinh năm 1994; Vắng mặt tại phiên tòa.
Cùng trú tại: Khối 14, xã Phù Lỗ, huyện Sóc Sơn, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 28/7/2021, Phạm Văn T (có giấy phép lái xe hạng B2)
điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Kia màu trắng, BKS 29H-271.59 đi trên Quốc lộ 3 theo hướng Đông Anh đi Thái Nguyên với vận tốc khoảng 65 - 70km/h. Khi đi đến Km19+200, Quốc lộ 3, thuộc Khối 14, xã P, huyện Sóc Sơn, Hà Nội thì xảy ra va chạm với xe mô tô BKS 29S6-785.11 do ông Trịnh Quang Q điều khiển đang sang đường theo chiều ngược lại. Hậu quả: xe ô tô BKS 29H-271.59 đã đâm vào bên phải xe môtô BKS 29S6-785.11 rồi tiếp tục đâm vào cột điện bên đường và dừng lại, ông Q bị thương tích nặng và tử vong.
ết qu khám nghiệm hiện trƣờng nhƣ sau:
- Hiện trường của đoạn đường xảy ra tai nạn: Tuyến đường quốc lộ 3 là
đường hai chiều có vạch sơn vàng đứt quãng, ở giữa đường chia mặt đường thành hai chiều riêng biệt. Đoạn đường xảy ra tai nạn đường thẳng, mặt đường thảm nhựa nhẵn phẳng rộng 8,3m. Phần đường bên phải theo chiều cầu Đuống hướng Thái Nguyên rộng 4,5m. Phần đường bên trái rộng 3,86m. Lề đường bên phải được thảm bê tông nhẵn phẳng rộng 5,6m. Dọc bên phải đường theo chiều cầu Đuống hướng Thái Nguyên có các cột điện.
- Điểm mốc: Lấy cột điện ký hiệu 85/473.E1.16 làm điểm mốc. Lấy mép
đường bên phải đường Quốc lộ 3 theo chiều cầu Đuống hướng Thái Nguyên làm chuẩn.
- Xe ô tô BKS 29H-271.59 đỗ trên lề đường bê tông bên phải theo chiều đầu
xe hướng Thái Nguyên, đuôi xe hướng cầu Đuống. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái và hình chiếu tâm trục bánh sau bên trái vào mép đường làm chuẩn lần lượt là 3,5m và 3,3m. Đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái xe tới mặt ngoài cột điện là 2m.
- Xe mô tô BKS 29S6-78511 nằm đổ nghiêng bên trái xe ô tô. Bánh trước
bên trái xe ôtô nằm đè lên bánh trước xe mô tô. Đầu xe mô tô hướng lề đường bên phải, đuôi xe hướng ra ngoài mặt đường nhựa. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô và tâm trục bánh sau xe mô tô ra mép đường làm chuẩn lần lượt là 3,7m và 2,4m. Đo từ tâm trục bánh trước xe mô tô tới mặt ngoài cột điện là 1,3m.
- Từ mặt ngoài tâm trục bánh sau bên trái xe ô tô kéo về phía cầu Đuống
chếch ra ngoài mặt đường nhựa là vết trượt mặt đường nhựa và bê tông dài 17,4m. Đầu vết hướng cầu Đuống, cuối vết hướng Thái Nguyên chếch lề đường bên phải (dấu vết 3). Đo từ dấu vết 3 vào mép đường làm chuẩn là 0,6m. Đo từ đầu để chân chống giữa bên trái xe mô tô đo về phía cầu Đuống chếch ra mặt đường nhựa là vết trượt mặt đường nhựa và bê tông dài 19,4m. Đầu vết hướng cầu Đuống, cuối vết hướng Thái Nguyên chếch lề đường phải (dấu vết 4).
Đo khoảng cách giữa dấu vết 3 đến dấu vết 4 là 0,7m.
- Đo từ dấu vết 4 về hướng Thái Nguyên 0,3m là vết cày mặt đường nhựa có
kích thước 0,4x0,02x0,01(m) (dấu vết 5). Đầu vết hướng cầu Đuống, cuối vết
hướng Thái Nguyên chếch vào mép đường làm chuẩn. Đo từ đầu vết và cuối vết
vào mép đường làm chuẩn lần lượt là 1m và 0,9m.
- Đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước bên trái xe ô tô về hướng Thái
Nguyên 1,7m là vùng chất màu đỏ dạng máu (dấu vết 6) có kích thước trên diện
1x0,7 (m). Đo từ mép ngoài cùng dấu vết 6 vào mép đường làm chuẩn là 2m.
ết qu khám nghiệm t thi (do gia đình nạn nhân từ chối mổ pháp y tử thi
nên Giám định viên đã tiến hành khám ngoài tử thi):
- Tình trạng tử thi: Tử thi lạnh, mềm. Hai mắt nhắm, đồng tử giãn. Vết hoen
tử thi đang hình thành, tập trung vùng thấp.
- Đầu - mặt: Sưng nề, bầm tím mí trên mắt trái kích thước 6x6 (cm), trên vết
sưng nề, bầm tím da này có vết xây sát da kích thước 5x6 (cm). Xây sát da gò má
trái kích thước 3x2 (cm). Bầm tím da quanh mắt phải kích thước 4,5x3 (cm). Bầm
tím, rách da tai phải tới gò má phải kích thước 13x8(cm). Sây sát, bầm tím da cằm
phải kích thước (3,5x1,5) cm. Hai lỗ tai có máu. Hai lỗ mũi, miệng khô. Cung răng
chắc, không phát hiện gãy răng mới. Bầm tím niêm mạc môi dưới bên phải kích
thước 5,5x3 (cm). Sờ nắn không rõ vỡ xương.
- Cổ vững.
- Ngực mất vững.
- Sây sát da rải rác vùng bụng phải và vùng ngực trên diện 28x40 (cm).
- Tay phải: Sây sát, bầm tím da mặt mu bàn tay tới mặt sau cẳng tay kích
thước 35x10 (cm). Bầm tím mắt trước ngoài 1/3 dưới cẳng tay và bàn tay kích
thước 22x7 (cm). Bầm tím da mặt trước cánh tay kích thước 16 x 10 (cm). Sờ nắn
không thấy gãy xương.
- Tay trái: Sây sát da mặt sau khuỷu tay tới mặt trong cẳng tay kích thước
39x15cm. Trên vết sây sát da này có vết rách da lộ gân cơ và 1 phần xương cánh
tay, kích thước 10x4cm. Sờ nắn không rõ gẫy xương.
- Chân phải: Sây sát, bầm tím da mặt trước trong 1/3 dưới đùi tới mặt trước
trong cẳng chân kích thước 40x16cm. Sây sát da mu bàn chân, kích thước 2,5x8
(cm). Sờ nắn không thấy gãy xương.
- Chân trái: Bầm tím da mặt trước trong đùi kích thước 30x15 (cm). Bầm tím
da 1/3 đầu dưới mặt trước trong cẳng chân kích thước 21x6 (cm). Sờ nắn không
thấy gãy xương. Sây sát da thắt lưng trái kích thước 9x8 (cm).
B n kết luận giám định pháp y t thi số 723/GĐTT-TTPY ngày
07/8/2021 của Trung tâm pháp y - Sở y tế Hà Nội kết luận: Do không mổ tử thi
nên không kết luận được nguyên nhân chết.
ết qu khám nghiệm phƣơng tiện:
* Xe ô tô BKS: 29H-271.59
- Tại góc bên trái phía trước Cabin có dấu vết va chạm làm bẹp lõm kim loại,
trầy xước sơn, trên bề mặt dấu vết còn để lại chất bột màu nâu dạng đất, dấu vết va chạm làm vỡ, bong bật cụm đèn chiếu sáng phía trước bên trái, dấu vết có kích thước trên diện (100x50)cm.
- Tại mặt Capo phía trước đầu xe có dấu vết va chạm làm bẹp lõm kim loại,
dấu vết có kích thước trên diện (15x25)cm, trên bề mặt dấu vết còn để lại chất mùn màu đen, đỏ dạng sơn, điểm gần nhất cách mép phía dưới bên trái của nắp Capo là 14cm, điểm thấp nhất của dấu vết cách đất là 80cm.
- Tại góc bên trái ba đờ sốc trước có dấu vết va chạm làm vỡ nhựa, trên bề
mặt dấu vết còn để lại chất mùn dạng sơn màu đen, dấu vết có kích thước trên diện (30x22)cm, điểm gần nhất của dấu vết trùng với góc phía dưới bên trái của ba đờ sốc.
- Tại phần phía trên bên trái ba đờ sốc trước có dấu vết va chạm, trên bề mặt
dấu vết còn để lại chất mùn dạng sơn màu đen, dấu vết có kích thước trên diện (10x3)cm, điểm gần nhất của dấu vết cách góc phía trên bên trái của biển số phía trước là 02cm.
- Tại góc phía dưới bên trái kính chắn gió phía trước có dấu vết va chạm làm
vỡ kính chắn gió, dấu vết có kích thước toàn bộ kính chắn gió.
- Tại góc phía dưới bên trái Cabin có dấu vết va chạm làm trầy xước kim
loại, trầy xước sơn, trên bề mặt dấu vết còn để lại chất bột dạng đất đá, dấu vết có chiều từ trước về sau, điểm gần nhất trùng với mép phía dưới bên phải Cabin.
- Tại vành bánh trước bên phải xe ô tô có dấu vết va chạm làm hết hơi lốp
xe, cong vành kim loại.
- Tại lốp bánh xe phía trước bên trái có dấu vết va chạm làm trượt miết cao
su, dấu vết có kích thước toàn bộ mặt bên trái hướng ra ngoài của lốp xe.
* Xe mô tô BKS: 29S6-785.11
- Tại phía trước đầu xe có dấu vết va chạm làm vỡ mặt nạ, vỡ đèn xinhan 2
bên, gãy rời đèn chiếu sáng, gãy rời chắn bùn bánh trước, gãy rời cánh yếm chắn gió ốp nhựa sườn xe.
- Tại vành bánh trước có dấu vết va chạm làm cong vành kim loại, hết hơi
bánh trước.
- Tại càng giảm sóc phía trước 2 bên có dấu vết va chạm làm cong càng giảm
sóc, gãy càng giảm sóc phía trước bên phải.
- Tại ốp nhựa đầu xe có dấu vết va chạm làm mài mòn nhựa, gãy rời ốp nhựa
đầu xe.
- Tại cánh yếm chắn gió bên phải có dấu vết va chạm làm mài mòn nhựa,
trên bề mặt dấu vết còn để lại chất bột dạng sơn màu trắng, dấu vết có kích thước trên diện (15x23)cm.
- Tại ống xả bên phải có dấu vết va chạm làm trầy xước kim loại, dấu vết có
kích thước trên diện (16x5)cm, trên bề mặt dấu vết còn để lại chất bột dạng sơn màu trắng, điểm gần nhất của dấu vết cách điểm nối của ống xả vào máy là 13cm, điểm thấp nhất cách đất 23cm.
- Tại góc bên phải tay nắm phía sau có dấu vết va chạm làm trượt miết sơn,
mài mòn kim loại, dấu vết có kích thước trên diện (3x3)cm, trên bề mặt dấu vết còn
để lại chất mùn dạng sơn màu đen, điểm gần nhất của dấu vết cách góc bên phải
của tay dắt là 8cm, điểm thấp nhất cách đất 82cm.
Về tang vật, vật chứng của vụ án gồm: 01 xe ô tô tải nhãn hiệu Kia màu
trắng BKS 29H-271.59, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 603169, 01 giấy
chứng nhận kiểm định số KC 9701418, 01 giấy phép lái xe số 010141056437, 01
giấy chứng nhận bảo hiểm số XC.2.1 181106347, 01 xe mô tô BKS nhãn hiệu
Honda Vision màu đen xám BKS 29S6-785.11, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô
tô số 056238.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 06/10/2021, Cơ quan điều tra đã ra quyết
định xử lý vật chứng và trao trả cho bà Đinh Thị T (sinh năm 1967, trú tại Khối 14,
xã P, huyện Sóc Sơn, Hà Nội) - đại diện gia đình ông Trịnh Quang Q: 01 xe mô tô
BKS nhãn hiệu Honda Vision màu đen xám BKS 29S6-785.11 và 01 giấy chứng
nhận đăng ký xe mô tô số 056238; trao trả cho bị cáo Phạm Văn T: 01 xe ô tô tải
nhãn hiệu Kia màu trắng BKS 29H-271.59, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số
603169, 01 giấy chứng nhận kiểm định số KC 9701418, 01 giấy chứng nhận bảo
hiểm số XC.2.1 181106347.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn T đã tự
nguyện bồi thường, thăm hỏi và hỗ trợ gia đình nạn nhân Trịnh Quang Q số tiền
220.000.000 đồng. Gia đình nạn nhân không có yêu cầu gì về bồi thường dân sự và
đã có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Phạm Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản
khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh hiện trường, biên bản khám
nghiệm tử thi, kết quả giám định dấu vết va chạm, hình ảnh trích xuất từ camera và
các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 174/CT-VKS ngày 11/11/2021 của Viện kiểm sát nhân
dân huyện Sóc Sơn truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội: "Vi phạm quy định về tham
gia giao thông đường bộ" theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng
xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn giữ nguyên quan điểm truy
tố và đề nghị: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 12 đến 15 tháng tù; Thời hạn thử
thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Trả lại cho bị cáo Phạm Văn T
01 giấy phép lái xe ôtô mang tên Phạm Văn Tú.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an huyện Sóc
Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận có hành vi phạm
tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; Biên bản khám dấu vết phương tiện giao thông liên quan; Biên bản khám tử thi; Lời khai của người làm chứng; Bản ảnh trích xuất camera giám sát hành trình; Phù hợp với ý kiến phát biểu, lời luận tội của Viện kiểm sát và phù hợp với nội dung vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 27/8/2021, Phạm Văn T (có giấy phép lái xe hạng B2) điều khiển xe ô tô tải BKS 29H-271.59 lưu thông với vận tốc 65 - 70km/h trên đường Quốc lộ 3, theo chiều Hà Nội hướng Thái Nguyên. Khi đi đến Km 19+200, Quốc lộ 3 thuộc Khối 14, xã P, huyện Sóc Sơn, Hà Nội, do không làm chủ tốc độ xe, không giảm tốc độ khi phát hiện có xe mô tô BKS 29S6-785.11 của ông Q đang chuyển hướng sang đường nên xe do Phạm Văn T điều khiển đã đâm vào xe mô tô BKS 29S6-785.11 do ông Trịnh Quang Q điều khiển, hậu quả ông Q tử vong.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông
đường bộ". Tội danh và hình phạt được qui định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Điều khoản này quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an
toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người;”.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến trật tự
công cộng và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi điều khiển xe ô tô không làm chủ tốc độ xe, không giảm tốc độ khi phát hiện có xe mô tô BKS 29S6-785.11 của ông Q đang chuyển hướng sang đường là vi phạm pháp luật. Ông Trịnh Quang Q khi chuyển hướng đã không nhường đường cho xe đi ngược chiều, vi phạm Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Vụ án xảy ra là do lỗi hỗn hợp của cả bị cáo và ông Q. Vì vậy, cần phải truy tố và xét xử bị cáo là đúng quy định pháp luật.
Về nhân thân và tiền án, tiền sự: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền
án, không có tiền sự.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, chưa có tiền
sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; khi xảy ra tai nạn bị cáo đã gọi xe đưa nạn nhân đi cấp cứu; sau tai nạn, bị cáo đã khắc phục toàn bộ phần thiệt hại cho gia đình bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn và
có lời khai tại phiên tòa xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo; bị cáo có
địa chỉ rõ ràng; bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị
cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an
ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Do đó, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được cải tạo
ngoài xã hội dưới sự giúp đỡ của gia đình và chính quyền địa phương cũng có tác
dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội và cũng thể hiện
chính sách khoan hồng của pháp luật đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.
Về phần dân sự: Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin vắng mặt và
không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự. Vì vậy, Tòa án không xem xét, giải
quyết.
Về vật chứng vụ án: 01 giấy phép lái xe ôtô mang tên Phạm Văn T trả lại
cho bị cáo Phạm Văn Tú.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có
quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.
Vì những lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia
giao thông đường bộ".
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 65
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Nghị quyết số 02/2018 ngày
15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng
Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo”;
- Xử phạt: Phạm Văn T 12 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách là
24 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Phạm Văn T về Uỷ ban nhân dân xã P, huyện Sóc Sơn, Hà Nội
để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của bản án. Trong trường hợp người
được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải
chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho
Phạm Văn T 01 giấy phép lái xe ôtô mang tên Phạm Văn T (Hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn theo biên bản bàn giao ngày 25/11/2021).
- Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1, 3 Điều 21;
Điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại
diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án./.
T.M héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm
N¬i nhËn :
ThÈm ph¸n - chñ to¹ phiªn toµ
- TAND Thµnh phè Hµ Néi.
- VKSND huyện Sóc Sơn.
- VKSND Thµnh phè Hµ Néi.
- Chi côc thi hµnh ¸n huyện Sóc Sơn.
- Bị cáo,bị hại;
- Lưu HS -VP.
TrÇn Ngäc Hßa