vanban.org

Bản án 174/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 19/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Bị cáo Lò Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H: 18 (Mười tám) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2019; Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Hùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Bị cáo Lò Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2020/HSST
Ngày: 19/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quảng Thái 2. ông Đỗ Phượng

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Quyên - Cán bộ Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Ông Vũ Xuân Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố TN, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 121/2020/HSST ngày 20/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 194/2020/QĐXXST - HS ngày 27/4/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn H; sinh ngày 30/7/1978; Tên gọi khác: Không.

Nơi ĐKHKTT: Bản NN, xã NN, huyện MC, tỉnh ĐB. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 4/12;

Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Lò Văn C, sinh năm 1945; Con bà: Lò Thị P, sinh năm 1947; Đều trú tại: Bản NN, xã NN, huyện MC, tỉnh ĐB; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Mào Thị N, sinh năm 1986 (đã ly thân).Trú tại: xã NN, huyện MC, tỉnh ĐB; Có 01 con sinh năm 2012.

- Tiền án, tiền sự: Không có.

- Nhân thân: Tại Quyết định số 1279 ngày 27/8/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh ĐB đưa vào Cơ sở giáo dục Thanh Hà trong thời hạn 24 tháng. Chấp hành xong ngày 02/11/2014.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/12/2019 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời chứng kiến:

Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1956 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 8, phường GS, TP TN, TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 11 giờ 20 phút ngày 28/12/2019, tổ công tác của Công an phường Gia Sàng, thành phố TN tiến hành tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ 5 của phường, phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiếp cận, yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Lò Văn H và tự giác khai nhận có cất giấu ma túy trong người, đồng thời lấy từ lòng bàn tay trái của H 02 gói nhỏ được gói bằng giấy màu trắng, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong kí hiệu A) giao nộp cho tổ công tác, H khai nhận là Heroine H mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng số chất bột dạng cục màu trắng trong bì niêm phong A thu giữ của H có khối lượng là: 0,180 gam (niêm phong kí hiệu H gửi giám định). Tại Kết luận giám định số 113/KL-KTHS ngày 05/01/2020 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong phong bì kí hiệu H gửi giám định là ma túy, loại: Heroine, có khối lượng là: 0,180 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn H khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 28/12/2019, H đi bộ một mình từ khu vực tổ 17, phường Gia Sàng đến khu vực đường dân sinh thuộc tổ 5, phường Gia Sàng, thành phố TN, mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ và mua của người này 02 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy màu trắng với giá là 200.000 đồng. Sau khi mua 02 gói Heroine xong, H cầm gói Heroine ở lòng bàn tay trái rồi đi tìm nơi sử dụng. Khi H vừa đi được khoảng 100m thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang như nêu trên.

Lời khai nhận của Lò Văn H phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luâ ̣n giám đi ̣nh , lời khai của người chứ ng kiến và các tài liê ̣u khác có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án:

- 01 bì niêm phong kí hiệu H (Bì niêm phong chứa chất ma túy – Mặt sau bì có 03 dấu tròn của Phòng KTHS – Công an thành phố TN). Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 130/CT- VKSTPTN, ngày 16/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Lò Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên xử bị cáo Lò Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

- Áp dụng điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS năm 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu H.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lò Văn H tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 11 giờ 20 phút, ngày 28/12/2019, tại khu vực tổ 5, phường Gia Sàng, thành phố TN, Lò Văn H có hành vi tàng trữ 0,180 gam Heroine mục đích sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Gia Sàng, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, do đã xóa án tích nên bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 BLHS.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tại phiên tòa bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, tỏ ra ăn năn hối cải, vì vậy khi lượng hình HĐXX đã xem xét và giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo tốt. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H được dán kín có 02 dấu đỏ của Phòng KTHS – Công an tỉnh TN và chữ ký của Nguyễn Thành Trung.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ Lò Văn H khai nhận mua của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực tổ 5, phường Gia Sàng, thành phố TN. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở làm rõ để xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên xử: Bị cáo Lò Văn H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn H: 18 (Mười tám) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 20/12/2019;

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu H được dán kín có 02 dấu đỏ của Phòng KTHS – Công an tỉnh TN và chữ ký của Nguyễn Thành Trung.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 177 ngày 03/3/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo ph ải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ