vanban.org

Bản án 174/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/08/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính t ngày 27/3/2020. Về vật chứng của vụ án: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2020/HS-ST
Ngày: 12-8-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Nhật Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thượng Văn Kịnh.

Bà Nguyễn Thị Mỹ Dung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành ph Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 182/2020/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2012; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 200/2020/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh năm 1984, tại An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Hòa Hảo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn K và bà Nguyễn Thị Kim P; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: không; bị b t tạm gi , tạm giam t ngày 27/3/2020 cho đến nay, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Vĩnh T1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau; v ng mặt.

Người làm chứng: Huỳnh Văn Thái B, v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

- Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 26/3/2020, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô biển số 69K1-37XX đi t phòng trọ, khu 1, phường Hoà Phú, thành phố Thủ Dầu Một đến Chợ Mỹ Phước, thị xã Bến Cát gặp người bạn tên Vũ (không rõ địa chỉ) mua 300.000 đồng ma túy đá. Vũ đưa cho T 01 hộp nhựa bên trong có chứa ma túy đá. T lấy hộp nhựa cất vào cốp xe rồi điều khiển xe về phòng trọ. Khoảng 01 giờ ngày 27/3/2020, Huỳnh Văn Thái B điện thoại cho T nhờ ra rước B ở Ngã ba Khu Công nghiệp Mỹ Phước. T điều khiển xe mô tô đến gặp B và chở B về phòng trọ ở phường Thuận Giao, thành phố Thuận An. Khi T điều khiển xe đến đường Mỹ Phước-Tân Vạn, thuộc phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương thì bị lực lượng Công an phường Phú Lợi kiểm tra, phát hiện và b t gi . Tang vật thu được gồm 01 gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, biển số 69K1-37XX; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về hành vi phạm tội của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa gi nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

- Về các vấn đề khác của vụ án:

Vật chứng thu gi trong vụ án: 01 gói ny lon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu tr ng; 01 xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, biển số 69K1-37XX; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen.

Ngày 02/4/2020, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương có Kết luận giám định số 174/MT-PC09, kết luận: chất màu tr ng trong một túi nylon hàn kín được gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2247 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô hiệu Wave, màu đỏ, biển số 69K1-37XX là do ông Nguyễn Vĩnh T1 đứng tên dùm cửa hàng xe máy, ai là chủ sở h u xe ông T1 không biết. Bùi Văn T khai mua của một người buôn bán xe cũ nhưng đã làm mất giấy đăng ký nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển xe mô tô trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, có số sim 03287546XX của Bùi Văn T nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định chuyển điện thoại trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một.

- Về trích dẫn cáo trạng của Viện kiểm sát:

Bản Cáo trạng số 193/CT-VKS-HS ngày 30/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Bùi Văn T về tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Về mức hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo T mức án t 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù.

+ Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 0,1126 gam Methamphetamine (trọng lượng sau giám định); tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe môtô biển số 69K1-3749; trả lại bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Bị cáo trình bày lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 27/3/2020, trên đoạn đường Mỹ Phước – Tân Vạn, thuộc khu phố 7, phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, bị cáo T đã có hành vi tàng tr 0,2247 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng thì bị Công an phường Phú Lợi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương b t quả tang. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Về nhận thức, bị cáo biết việc tàng tr trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, làm phát sinh các tệ nạn xã hội. Hành vi của bị cáo không nh ng xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của nhà nước mà còn ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Hội đồng xét xử quyết định xử bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ng a chung cho toàn xã hội.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét đề nghị của kiểm sát viên về mức hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vật chứng của vụ án:

Một gói ma túy có trọng lượng 0,1126 gam Methamphetamine là tang vật của vụ án không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng, kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển số 69K1-37XX

(số

máy

RPTDS152FMH000824XX,

số

khung RPHWCHBUM5H0824XX) bị cáo Bùi Văn T sử dụng làm phương tiện phạm tội, không tìm được chủ sở h u hợp pháp nên Hội đồng xét xử sẽ tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen (số IMEI1 3548681022692XX, số IMEI2 3548691022692XX, số seri máy: R58M77TMDXX, kiểu máy: SM-A305F/XX, số thuê bao 03287546XX) là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 260 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng tr trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính t ngày 27/3/2020.

2. Về vật chứng của vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy 0,1126 gam Methamphetamine.

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô hai bánh đã qua sử dụng, kiểu dáng Wave, màu đỏ, biển số 69K1-37XX (số máy: RPTDS152FMH000824XX, số khung: RPHWCHBUM5H0824XX).

- Trả lại cho bị cáo Bùi Văn T 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng hiệu Samsung màu xanh đen (số IMEI1 3548681022692XX, số IMEI2 3548691022692XX, số seri máy: R58M77TMDXX, số kiểu máy: SM-A305F/XX, số thuê bao 03287546XX).

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 162.20 ngày 01/7/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một và Công an thành phố Thủ Dầu Một).

3. Về án phí: Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án v ng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể t ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ