vanban.org

Bản án 174/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Phú V.

Buộc à Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn U có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đoàn Phú V số tiền nợ gốc 93.000.000 đồng và tiền l i 4.908.000 đồng. Tổng cộng 97.908.000 (chín mươi bảy triệu chín trăm lẻ tám nghìn) đồng. Về án phí dân sự sơ thẩm: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Phú V.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 174/2018/DS-ST
Ngày: 20-11-2018
V/v tranh chấp “Hợp đồng dân sự,
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA N NH N D N HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đặng Thị Kim Xuyến;

Ông Tôn Phước Thuận.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang– Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 205/2018/TLST-DS ngày 14 tháng 5 năm 2018 về việc tranh chấp “Hợp đồng dân sự, vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 184/2018/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đoàn Phú V, sinh năm 1981.

Cư trú: Số 350, ấp T1, x H, huyện C, tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1983; là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn văn ản ủy quyền ngày 24/5/2018); có mặt).

Cư trú: 477A/24, khóm B3, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Phạm Thị T, sinh năm 1978; vắng mặt).

Cư trú: p T2, x H, huyện C, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, ngh a vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn U, sinh năm 1977; vắng mặt).

Cư trú: p T2, x H, huyện C, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ N:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình ày:

Giữa ông V với à T là người cùng x , ông V iết à T cùng chồng là ông U kinh doanh nghề vận tải hàng hóa. Ngày 12/02/2018, à T h i vay của ông V số tiền 98.000.000 đồng và cam kết trả dần vốn m i ngày 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ, thời gian trả t ngày 20/2/2018 âm lịch. Khi vay, hai ên không t nh l i và có làm iên nhận nợ vào ngày 12/02/2018. Ông V đ giao đủ số tiền cho à T. Sau đó, à T trả được 5.000.000 đồng thì không tiếp tục trả nợ như đ cam kết an đầu, ông V đ nhiều lần đòi nợ nhưng à T v n không trả và c h a h n lần lựa. Đến nay, à T còn nợ lại ông V số tiền 93.000.000 đồng.

Giữa à T và ông U là vợ chồng, ông à v n còn sống chung và có con chung với nhau. Bà T vay tiền để kinh doanh chung với chồng và chi ph sinh hoạt trong gia đình. Do đó, ông V yêu cầu à T cùng ông U có nghĩa vụ liên đới trả số nợ còn lại 93.000.000 đồng và yêu cầu t nh l i t ngày 11/4/2018 đên ngày Tòa án xét xử sơ thẩm.

Theo lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết vụ án, ị đơn Phạm Thị T trình bày: Vào ngày 12/02/2018 à có làm giấy nhận nợ với ông V với nội dung à có mượn của ông V số tiền 98.000.000 đồng, l i suất 30 /tháng c 10.000.000 đồng thì đóng l i 100.000 đồng/ngày). T ngày 12/02/2018 đến nay à không có đóng l i cho ông V. Ngày 15/02/2018, à có trả được 5.000.000 đồng và ông V có ký nhận số tiền này. Hiện tại, à chỉ còn nợ lại ông V 93.000.000 đồng. Bà đồng ý trả số tiền này nhưng do hoàn cảnh à đang khó khăn à xin trả d n m i tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết số nợ và à không đồng ý trả l i theo yêu cầu của ông V. Việc à mượn tiền của ông V thì chồng à là ông Nguyễn Văn U không iết và c ng không có trách nhiệm gì đối với số nợ này. Bà mượn tiền của ông V để à điều trị ệnh và chi ph sinh hoạt trong gia đình.

Ông U đ được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng v n vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không tiến hành được phiên h p về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu à T và ông U có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 93.000.000 đồng, rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 5.000.000 đồng, yêu cầu t nh l i theo quy định pháp luật t ngày Tòa án thụ lý vụ án đến ngày xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát iểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể t khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng với quy định của pháp luật.

Ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Theo ông Đoàn Phú V trình ày: Ngày 12/02/2018, ông Đoàn Phú V có cho à Phạm Thị T vay 98.000.000 đồng, trả dần m i ngày 1.000.000 đồng, thời gian trả t ngày 20/02/2018. Do à T không thực hiện như cam kết nên ông V khởi kiện yêu cầu à T, ông Nguyễn Văn U chồng à T) liên đới trả 93.000.000 đồng, t nh l i suất theo quy định của pháp luật t ngày 14/5/2018 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm. Rút lại yêu cầu khởi kiện 5.000.000 đồng. Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của ông V là phù hợp khoản 2 Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Phía bà T th a nhận còn nợ ông V 93.000.000 đồng, xin trả dần m i tháng 1.000.000 đồng và không t nh l i suất.

Xét thấy, hợp đồng vay tài sản giữa ông V, bà T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, th a thuận và được thể hiện ằng iên nhận ngày 12/02/2018. Do phía bà T vi phạm nghĩa vụ nên ông V khởi kiện yêu cầu trả 93.000.000 đồng là có căn c phù hợp Điều 463, 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với ông U, tuy không trực tiếp giao kết hợp đồng, nhưng đây là khoản nợ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân đang tồn tại, nên việc ông V yêu cầu ông U liên đới cùng à T trả số tiền 93.000.000 đồng là có căn c , phù hợp Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình.

Về l i suất, do à T, ông U chậm thực hiện nghĩa vụ ảnh hưởng đến quyền lợi của ông V nên việc ông V yêu cầu t nh l i suất theo quy định của pháp luật t ngày 14/5/2018 đến khi Tòa án xét xử sơ thẩm là có căn c và phù hợp Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Đối với yêu cầu xin trả dần m i tháng 1.000.000 đồng của à T không được ông V đồng ý nên không có cơ sở xem xét, giải quyết.

T những phân t ch nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử căn c các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình, xem xét quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA N:

Sau khi nghiên c u các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn c vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Ông V khởi kiện tranh chấp hợp đồng dân sự, vay tài sản với ị đơn có nơi cư trú tại ấp T2, xã H, huyện C, tỉnh An Giang; căn c vào các Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đ được triệu tập hợp lệ lần th hai nhưng v n vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Giữa Ông V với à T có giao dịch vay tài sản với nhau và được lập thành văn ản ngày 12/02/2018 có chữ ký xác nhận của à T. Xét thấy, hợp đồng này được xác lập trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đ c x hội, không ị l a dối hay ép uộc nên đây là hợp đồng hợp pháp.

Tòa án đ tống đạt hợp lệ Thông áo thụ lý vụ án và Thông áo triệu tập U để tham gia các phiên h p kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai ch ng c và hòa giải nhưng ông v n không có mặt và c ng không gửi ý kiến cho Tòa án nên Tòa án không có cơ sở xem xét ý kiến của ông.

Căn c vào iên nhận nợ ngày 12/02/2018, xác định à T có vay của ông V số tiền 98.000.000 đồng. Khi vay, hai ên th a thuận à T sẽ trả dần m i ngày 1.000.000 đồng đến khi hết số tiền nợ. Tuy nhiên, à T chỉ trả được 5.000.000 đồng thì ngưng trả cho đến nay. Do à T đ vi phạm nghĩa vụ như đ cam kết nên ông V khởi kiện yêu cầu à T trả số tiền còn nợ 98.000.000 đồng là có căn c . Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu ị đơn trả 93.000.000 đồng do trước đó à T đ trả 5.000.000 đồng cho nguyên đơn. Đây là sự tự nguyên của đương sự và nội dung thay đổi không vượt quá phạm vi khởi kiện an đầu, xét chấp nhận. Vì vậy, Hội đồng xét xử uộc à T có trách nhiệm trả ông V 93.000.000 đồng là phù hợp Điều 466 Bộ luật dân sự 2015.

Trách nhiệm liên đới: Ông V yêu cầu ông U có trách nhiệm liên đới trả nợ cùng với à T. Xét, ông U không trực tiếp vay tiền và ký tên vào iên nhận nợ. Tuy nhiên, Tòa án đ tống đạt hợp lệ Thông áo thụ lý vụ án cho ông nhưng ông không có ý kiến phản đối. Bên cạnh đó, giao dịch vay tài sản của à T phát sinh trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng và à T vay tiền để làm chi ph sinh hoạt trong gia đình nên ông phải có trách nhiệm liên đới cùng à T trả nợ là phù hợp Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình.

Về l i su t: Nguyên đơn yêu cầu t nh l i theo quy định của pháp luật. Theo iên nhận nợ và lời trình ày của nguyên đơn, xác định hợp đồng vay tiền giữa hai ên không th a thuận l i suất nên thuộc trường hợp vay không có lãi được quy định tại khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, căn c vào yêu cầu t nh l i của nguyên đơn, Hội đồng xét xử uộc ị đơn trả tiền l i với m c l i suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 ộ luật dân sự năm 2015.

Về thời hạn tính lãi: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu t nh l i kể t ngày 11/4/2018 đến ngày Tòa án xét xử. Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu t nh l i kể t ngày Tòa án thụ lý vụ án đến ngày xét xử. Xét, hợp đồng vay tiền giữa hai ên xác lập vào ngày 12/02/2018 và không th a thuận thời gian trả cụ thể, chỉ th a thuận trả dần m i tháng, kỳ trả đầu tiền vào ngày 20/02/2018. Mặc dù, nguyên đơn không ch ng minh được ngày ị đơn trả số tiền 5.000.000 đồng vào thời gian nào nhưng nguyên đơn yêu cầu t nh l i t ngày Tòa án thụ lý vụ án t c ngày 14/5/2018). Xét, hợp đồng vay giữa hai ên không th a thuận thời gian trả nợ nhưng khi ị đơn nhận được Thông áo thụ lý vụ án thì iết được việc nguyên đơn yêu cầu ị đơn trả lại số tiền vay t ngày Tòa án thụ lý vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận thời hạn t nh l i của nguyên đơn là phù hợp khoản 4 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

Căn c khoản 2 Điều 468 luật dân sự năm 2015, l i suất theo quy định được t nh 10 /năm, 0,8333 /tháng), 0,02777 /ngày), số tiền l i được t nh như sau:

T ngày 14/5/2018 đến ngày 20/11/2018 là 190 ngày;

Tiền l i 93.000.000 đồng x 0,02777 /ngày x 190 ngày 4.908.000 (bốn triệu chín trăm lẻ tám nghìn) đồng.

T những cơ sở phân t ch trên, Hội đồng xét xử uộc à T và ông U có trách nhiệm liên đới trả cho ông V số tiền nợ gốc 93.000.000 đồng và tiền l i 4.908.000 đồng là phù hợp Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3]. Về án phí:

- Ông V khởi kiện và được Tòa án chấp nhận yêu cầu nên không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm.

- Bà T và ông U vi phạm nghĩa vụ nên phải chịu án ph dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các Điều 288, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình;

Các Điều 26, 35, 39, 92, 144, 147, 228, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy an thường vụ Quốc Hội quy định về m c thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Đoàn Phú V.

Buộc à Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn U có trách nhiệm liên đới trả cho ông Đoàn Phú V số tiền nợ gốc 93.000.000 đồng và tiền l i 4.908.000 đồng. Tổng cộng 97.908.000 (chín mươi bảy triệu chín trăm lẻ tám nghìn) đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Phạm Thị T và ông Nguyễn Văn U có trách nhiệm liên đới chịu án ph sơ thẩm 4.895.000 (bốn triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn) đồng.

Ông Đoàn Phú V được nhận lại số tiền tạm ng án ph đ nộp 2.450.000 (hai triệu bốn trăm năm mươi nghìn) đồng theo iên lai thu số 0019630 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 14 tháng 5 năm 2018.

Về quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể t ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do ch nh đáng thì thời hạn kháng cáo t nh t ngày nhận được ản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Kể t ngày ên được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ên phải thi hành án không thanh toán số tiền trên cho ên được thi hành án thì hàng tháng ên phải thi hành án còn phải trả cho ên được thi hành án số tiền l i theo m c l i suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM . HỘI Đ NG X T X

TH M

Cỡ chữ