vanban.org

Bản án 174/2018/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 20/09/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/09/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử : Đình chỉ một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L đố i vớ i diệ n tí ch 986m2 đấ t (có tài sản trên đấ t) của bà Nguyễ n Thị Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Điệp-Trần Văn Vàng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 174/2018/DS-PT
Ngày: 20 - 9 - 2018
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Út

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễ n Thà nh Lậ p

Ông Huỳnh Văn Yên

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Đoan - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2018/TLPT- DS ngày 26 tháng 02 năm 2018 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 58/2018/QĐPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1939 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Hoàng Út - Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước Việt Nam, tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị đơn:

1. Ông Trần Văn V, sinh năm 1951 (có mặt).

2. Bà Phùng Thị L, sinh năm 1957 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Thành Sang – là Luật Sư Công ty Luật TNHH Luật Sống, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1971 (có mặt).

2. Chị Trương Thị T1, sinh năm 1972 (có mặt).

3. Chị Phạm Triều Y, sinh năm 1990 (vắng mặt).

4. Chị Phạm Bích Th, sinh năm 1992 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh C.

5. Uỷ ban nhân dân huyện Đ (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Người kháng cáo: Ông Trần Văn V – bà Phùng Thị L là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, cũng như trong qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:

Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Vào năm 1979 – 1980 bà Nguyễn Thị N (chị ruột bà Đ) có cho bà Nguyễn Thị Đ một phần đất thổ cư và mặt tiền để cất nhà ở. Phần đất đó bà Đ quản lý, sử dụng như canh tác, sản xuất và đào mương làm cống xổ vuông từ khi được bà N cho đến nay. Năm 1990 bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào tháng 01 năm 2017 âl, ông Trần Văn V và bà Phùng Thị L ngăn cản không cho con bà Đ là anh Phạm Văn L1 cải tạo đất. Chính quyền địa phương có lập biên bản xác minh đối với bà N thì bà N vẫn giữ nguyên lời hứa ban đầu là cho bà Đ một phần đất thổ cư và mặt tiền để cất nhà ở. Ông V và bà L ngang nhiên đắp đường cống xổ không cho gia đình bà Đ xổ và lấy nước. Bà Đ có yêu cầu chính quyền địa phương ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi hòa giải thì Ông V và bà L thống nhất ký tên vào biên bản đất này là của bà N cho bà Đ.

Sau khi ấp Tân Lợi A giải quyết thì Ông V và bà L vẫn tiếp tục ngăn cản không cho gia đình bà Đ cải tạo đất. Bà Đ có yêu cầu Uỷ ban nhân dân xã Tạ An Khương Nam giải quyết nhưng không thành.

Nay bà Đ yêu cầu giải quyết công nhận phần đất tại ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau có diện tích theo đo đạc thực tế là 1.572m2 thuộc quyền sử dụng của bà.

Trên đất tranh chấp có nhà bà Đ đang quản lý sử dụng cùng các con và cháu gồm: Phạm Văn L1, Trương Thị T1, Phạm Triều Y, Phạm Bích Tiền (có tên trong hộ khẩu nhưng không còn sống chung gia đình) và Phạm Bích Th.

Trường hợp Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà, mà chấp nhận yêu cầu phản tố của Ông V và bà L thì bà Đ xin tiếp tục được ở lại trên phần đất này, bà Đ đồng ý trả bằng giá trị.

Theo tờ tường thuật, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Phùng Thị L trình bày:

Bà L có phần đất diện tích 35.500m2 tọa lạc ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi được Uỷ ban nhân dân huyện Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1990.

Về nguồn gốc phần đất: Phần đất là của cha bà tên Phùng Văn Kh (đã chết) và mẹ là Nguyễn Thị N để lại. Sau khi cha bà L qua đời, mẹ bà đi thêm bước nữa, xây dựng gia đình và theo chồng sinh sống. Bà L ở lại phần đất này với bà ngoại và cậu sáu, nhà ở cặp ranh đất. Thời gian sau do chiến tranh nên bà L có đi tản cư một thời gian ngắn, sau đó cũng trở về giữ đất, đến năm 1976 bà L có gia đình. Khi đó, cha mẹ và thân tộc hai bên thống nhất giao lại phần đất cho vợ chồng bà quản lý và canh tác, trông coi mồ mã, thờ cúng cha bà. Cũng trong thời gian đó, dì của bà L là bà Đ từ Sài Gòn về sinh sống, do bà Đ không có đất nên cất tạm căn nhà nhỏ ven sông trước mặt nhà bà để ở. Do bà Đ không có đất sản xuất nên cậu bà L là ông Nguyễn Văn T2 có cho bà Đ 05 công đất từ hậu trở ra giáp với đất của bà L. Năm 1981, bà N hỏi vợ chồng bà cho bà Đ mượn một cái nền để cất nhà, bà L đồng ý cho mượn. Năm 1990, bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà Đ kê khai luôn phần đất của bà L cho mượn có diện tích 847,4m2 để UBND huyện Đầm Dơi cấp luôn cho bà Đ. Năm 1993, bà L tiếp tục cho bà Đ mượn đường xổ nước.

Ngoài ra, việc bà Đ cho rằng gia đình bà có ký tên vào biên bản cho đất là hoàn toàn không có.

Nay bà Đ yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng của bà đối với phần diện tích 1.572m2, bà L không đồng ý. Bà L yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của và Điệp, công nhận diện tích đất 2.340m2 tại ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau là thuộc quyền sử dụng của bà.

Đối với nhà và các công trình kiến trúc khác của bà Đ có trên đất tranh chấp, trường hợp Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu phản tố của bà với Ông V thì bà L yêu cầu bà Đ và những người đang sinh sống trên phần đất tự di dời, không hỗ trợ chi phí di dời. Bà L chỉ đòi đất, bà không đồng ý nhận bằng giá trị.

Theo tờ tường thuật, cũng như trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Trần Văn V trình bày:

Từ năm 1976 được sự thống nhất của thân tộc hai bên, vợ chồng ông được giao phần đất trên để quản lý. Quá trình quản lý sử dụng, Ông V canh tác trên đất từ trước đến nay không có tranh chấp. Trước đây, Ông V có thống nhất cho bà Đ mượn đường xổ nước và nền nhà, nhưng quá trình sử dụng bà Đ lấn chiếm luôn. Bà Đ yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng của bà đối với phần diện tích 1.572m2, ông không đồng ý. Ông yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ đối với phần diện tích đất tranh chấp nêu trên, đồng thời yêu cầu công nhận diện tích đất 2.340m2 thuộc quyền sử dụng của ông Và bà L. Các nội dung khác Ông V thống nhất theo trình bày của bà L, ông không có bổ sung gì thêm.

Đối với nhà và các công trình kiến trúc khác của bà Đ có trên đất tranh chấp, trường hợp Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Và bà L thì Ông V yêu cầu bà Đ và những người đang sinh sống trên phần đất tự di dời, không hỗ trợ chi phí di dời. Ông V chỉ đòi đất, ông không đồng ý nhận bằng giá trị.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phạm Văn L1 trình bày:

Anh thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Đ. Trường hợp Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất theo yêu cầu phản tố của Ông V và bà L thì anh yêu cầu được ở trên đất, anh đồng ý trả bằng giá trị cho Ông V và bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trương Thị T1 trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Đ. Trường hợp Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất theo yêu cầu phản tố của Ông V và bà L thì bà yêu cầu được ở trên đất, bà đồng ý trả bằng giá trị cho Ông V và bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Bích Th trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Đ. Trường hợp Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất theo yêu cầu phản tố của Ông V và bà L thì chị yêu cầu được ở trên đất, chị đồng ý trả bằng giá trị cho Ông V và bà L.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Triều Y trình bày:

Chị thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Đ, không đồng ý yêu cầu phản tố của Ông V và bà L. Trường hợp Tòa án giải quyết buộc bà Đ trả lại phần đất theo yêu cầu phản tố của Ông V và bà L thì chị yêu cầu được ở trên đất, không đồng ý trả bằng giá trị cho Ông V và bà L.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi quyết định:

Căn cứ vào Điều 5; Điều 35; Điều 91; Điều 147; khoản 1 Điều 157; khoản 1 Điều 165; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ. Công nhận phần đất có diện tích 1.572m2 thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Đ, phần đất tọa lạc ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau có vị trí tứ cận như sau:

Hướng Đông giáp phần đất còn lại của bà Nguyễn Thị Đ điểm P1P2, dài 19,6m;

Hướng Tây giáp sông Hương Mai (tên gọi khác là Hang Mai) điểm M4M1, dài 15,2m;

Hướng Nam giáp phần đất của ông Trần Văn V điểm P2M4, dài 93m;

Hướng Bắc giáp phần đất của ông Nguyễn Văn T2 điểm M1P1, dài 88,8m;

(Có sơ đồ đo đạc kèm theo)

2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn V và bà Phùng Thị L, về việc buộc bà Nguyễn Thị Đ và anh Phạm Văn L1 phải trả phần đất mượn cất nhà và phần đất làm đường nước xổ với diện tích 2.340m2, phần đất tọa lạc ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn V và bà Phùng Thị L, về việc yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp cho bà Nguyễn Thị Đ đối với phần diện tích đất tranh chấp và yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 2.340m2 thuộc quyền sử dụng của ông bà.

4. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn V và bà Phùng Thị L, về việc buộc bà Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Văn L1, chị Trương Thị T1, chị Phạm Triều Y và chị Phạm Bích Th phải di dời toàn bộ nhà, tài sản, công trình khác có trên đất để trả lại hiện trạng phần đất tranh chấp. Giữ nguyên hiện trạng phần đất tranh chấp và các tài sản gắn liền trên đất cho bà Nguyễn Thị Đ, anh Phạm Văn L1, chị Trương Thị T1, chị Phạm Triều Y và chị Phạm Bích Th được tiếp tục quản lý, sử dụng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng , án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 17/01/2018, ông Trần Văn V – bà Phùng Thị L có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông bà: Buộc Bà L, anh L, chị T, anh Y, chị Th tháo dở nhà và công trình khác có trển đất để trả phần đất 2.340m2 (đo đạ c thự c tế là 1.572m2) cho Ông V – bà L, và yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Đ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, Ông V – bà L rút một phần yêu cầu kháng c áo đối vớ i diệ n tí ch 968m2 (trong tổ ng số diệ n tí ch tranh chấ p 1.572m2), còn lại chỉ yêu cầ u 604m2.

Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ông V – bà L phát biểu: Đề nghị chấ p nhậ n yêu cầ u rút lại một phần yêu cầu kháng cáo của ông V – bà L.

Tại phiên tòa ngày 08/5/2018 anh L, bà Đ chấ p nhậ n nhườ ng lạ i cho ông V – bà L mặ t tiề n 01mét chạy dài hết đất . Ngày 31/5/2018 anh L, bà Đ thay đổ i ý kiế n không nhườ ng lạ i cho ông V – bà L 01 mét đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm , anh L, bà Đ thố ng nhấ t để ông V – bà L rút một phầ n yêu cầ u khá ng cá o đố i vớ i phầ n đấ t 968m2 (có nhà trên đấ t). Đối với yêu cầu của ông V – bà L yêu cầ u bà Đ trả 604m2 còn lại, ý kiến của anh L, bà Đ đề nghị không chấ p nhậ n yêu cầ u củ a ông V – bà Đ, trườ ng hợ p Tò a á n chấ p nhậ n yêu cầ u của ông V – bà L thì nguyên đơn xin trả giá trị đất, giá trị cây cối như đã định giá, để đất và cây cố i cho bà Đ tiế p tụ c sử dụ ng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận kháng cáo của ông Trầ n Văn V – bà Phùng Thị L , đề nghị sửa án sơ thẩ m. Ghi nhậ n sự tự nguyệ n củ a bà Đ về hoà n trả giá trị đất , giá trị cây cối cho bị đơn , để giữ y phần đấ t cho nguyên đơn sử dụ ng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Án sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu của ng uyên đơn bà Nguyễ n Thị Đ, không chấ p nhậ n yêu cầ u phả n tố củ a ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L về việ c đò i lạ i diệ n tí ch đấ t th eo đo đạ c thự c tế là 1.572m2 đấ t. Bà Đ đồ ng ý á n sơ thẩ m , ông V – bà L kháng cá o toà n bộ á n sơ thẩ m. Vào ngày 08.5.2018 ông V – bà L xin rút lại một phần yêu cầu kháng cáo cáo đối với diện t ích đối với diện tích 968m2 (có nhà trên đất) trong tổ ng số diệ n tí ch tranh chấ p 1.572m2 đượ c bà Đ đồ ng ý nên cầ n đì nh chỉ mộ t phầ n yêu cầ u kháng cáo này của ông V – bà L. Như vậ y, diệ n tí ch tranh chấ p cò n lạ i là 604m2 là phạm vi xét xử phúc thẩm theo luật định.

Xét về nguồn gốc phần đất tranh chấp: Theo bà Đ xác định, phần đất này bà được bà N cho vào khoảng năm 1979 – 1980, khi cho không có làm giấy tờ. Đến năm 2007 khi giải quyết tranh chấp đất giữa bà với Ông V và bà L thì chính quyền ấp Tân Lợi A có lập biên bản xác minh đối với bà N thì bà N đã thừa nhận có cho bà Đ phần đất thổ cư với diện tích 2.340m2, việ c xá c đị nh đấ t nà y củ a bà Năm cho bà Đ là phù hợp với chứ ng cứ có tại hồ sơ , đượ c Bả n á n sơ thẩ m nhậ n đị nh là có căn cứ . Sau khi đượ c cho đấ t sử dụ n g, đến năm 1990 bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp Giấy CNQSDĐ. Việ c bà Đ đượ c cấ p Giấ y CNQSDĐ là hợp pháp, nên việ c yêu cầ u hủ y Giấ y chứ ng nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t của bà ông V – bà L đố i vớ i bà Đ là không có cơ sở .

Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạ c thì diện tích thực tế phần đất của bà Đ đang sử dụng là 9.873m2 (kể cả phần diện tích đang tranh chấp 1.572m2), diện tích bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp là 12.160m2. Như vậy, phần diện tích thực tế bà Đ đang sử dụng ít hơn phần diện tích được cấp là 2.287m2. Còn Ông V - bà L đang sử dụng phần đất có diện tích thực tế là 35.357m2, phần diện tích Ông V được cấp là 32.500m2. Như vậy, phần diện tích thực tế Ông V và bà L đang sử dụng nhiều hơn phần diện tích được cấp là 2.857m2. Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạ c củ a cấ p sơ thẩ m thể hiệ n thì phần đất tranh chấp có diện tích thự c tế là 1.572m2 (Giấ y CNQSDĐ thì diệ n tí ch 2.340m2) hiện nằm trong tổ ng diệ n tí ch 12.160m2 thuộ c Giấy CNQSDĐ của bà Đ được Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp cho bà Đ vào năm 1990.

Tại phiên tòa phúc thẩm , các bên đều thừa nhận vào lúc 02 giờ chiề u ngày 7.10.2007, các bên có lập biên bản thỏa thuận, có ông V – bà L và bà Đ – anh L ký tên thỏa thuận nộ i dung: Ông V – bà L để cho bà Đ sử dụ ng phầ n đấ t hiệ n hữ u mặ t tiề n ngang 13,2m (giáp lộ), dài eo thứ nhất 37m, eo nhì 08m, từ eo nhì ra tớ i ruộ ng là 44,5m (đều nằm trong một phần diện tích 2.340m2 của bà Đ). Sau khi thỏa thuận, bà Đ sử dụ ng mộ t phầ n diệ n tí ch nêu trên, có đường nước xổ vuông ra sông Hương Mai (tên gọi khác là Hang Mai), mộ t phầ n cò n lạ i bà Đ không đượ c sử dụng thỏa thuận để lại cho vợ chồng ông V, vợ chồ ng ông V sử dụ ng trồ ng cây lâu năm. Theo đo đạ c thự c tế , phầ n đấ t tranh ch ấp theo các bên thỏa thuận năm 2007, có diện tích đo đạc là 604m2 (đều nằm trong diệ n tí ch đượ c cấ p củ a bà Đ). Hiệ n trạng phần đất này có 01 cái bờ đề u đượ c gia đì nh ông V – bà L trồ ng nhiề u loạ i cây tạp, tại tòa ông V xác định có cây trồng trên 30 năm (thể hiệ n tại biên bản định giá). Thự c tế , từ khi ông V sử dụ ng phầ n đấ t cò n lạ i , trồ ng cây lâu năm thì bà Đ không có ngăn cả n gì. Tuy nhiên, trong phầ n diệ n tí ch đất bà Đ thỏa thuận giao lại cho vợ chồ ng ông V thì có một đườ ng xổ nướ c dẫ n từ vuông tôm phí a sau hậ u đấ t ra củ a gia đì nh bà Đ, hàng năm bà Đ sên vuông, cải tạo vuông thì ông V ngăn cả n, cho rằ ng phầ n đấ t nà y đã thỏ a thuậ n giao trả cho ông nên không đượ c tá c độ ng đến, từ đó phá t sinh tranh chấ p.

Từ sự thỏ a thuậ n vào năm 2007 trên, và thực tế sử dụng đất sau khi thỏa thuậ n, xét cầ n giao diệ n tí ch phầ n đấ t tranh chấ p 604m2 cho ông V – bà L sử dụ ng là có căn cứ . Song, nế u giả i quy ết theo thỏa thuận này , thì bà Đ không thể có đườ ng xổ nướ c để nuôi tôm , bở i lẽ đấ t bà Đ bị cắt mất đườ ng xổ nước nuôi trồng thủy sản dẫn từ phía trong ra sông Hương Mai (tên gọi khác là Hang Mai). Lẽ ra, cấ p phú c thẩ m có thể giả i quyế t cắ t mộ t ph ần đất trong diện tích 604m2 (bờ có cây trồ ng) giao lạ i cho vợ chồ ng ông V mộ t phầ n đấ t (sau khi trừ đườ ng xổ nướ c ra ) như tinh thầ n thỏ a thuậ n và o năm 2007, nhưng sau khi có kế t quả đo đạ c phầ n đấ t, thì vợ chồng ông V vẫ n không đó ng tiề n để nhậ n kế t quả đo đạ c , Tòa án có ra Thông bá o, đồ ng thờ i có biên bản làm việc đố i vớ i vợ chồ ng ông V để thự c hiệ n nghĩa vụ tố tụng lấy kết quả đo đạc , nhưng vợ chồ ng ông V vẫ n khẳ ng đị nh không thanh lý hợ p đồ ng, không lấ y kế t quả đo đạ c , từ đó cấ p phú c thẩ m không có cơ sở số đo, diệ n tí ch để cắ t mộ t phầ n bờ nà y cho vợ chồ ng ông V, bà L sử dụ ng.

Mặ c dù bà Đ sử dụ ng phầ n đấ t í t hơn so vớ i Giấ y CNQSDĐ đượ c cấ p (1.572m2 so vớ i 2.340m2), đồ ng thờ i phầ n đấ t tranh chấ p 604m2 hiệ n vẫ n nằ m trong quyề n sử dụ ng đấ t củ a bà Đ, nhưng tại phiên Tòa , bà Đ và người bảo vệ quyề n, lợ i ích hợp pháp của bà Đ trình bày, nế u Tòa tuyên xử phải giao đấ t cho bị đơn thì bà Đ xin đượ c trả lạ i giá trị bằ ng tiề n đị nh giá đấ t và cây cố i , giữ lạ i toàn bộ cây cố i để tiếp tục được tồn tại trên đất , vì giao đấ t sẽ không có đườ ng xổ nướ c nuôi trồ ng thủ y sả n . Xét đây ý kiến tự nguyện của bà Đ, phù hợp với các căn cứ giải quyết vụ án , nên có cơ sở chấ p nhậ n đề nghị này . Diệ n tí ch 604m2 x 30.000 đồ ng = 18.120.000 đồ ng và tiề n cây trồ ng là 5.900.000 đồ ng (theo biên bả n đị nh giá ngày 20.7.2017). Theo đó , ông V – bà L đượ c nhậ n giá trị bằ ng tiề n về đấ t và cây trồ ng, tổ ng số là 24.020.000 đồ ng; đồ ng thờ i giữ y phầ n đấ t 1.572m2 cho bà Đ tiế p tụ c sử dụ ng.

Từ phân tí ch trên có căn cứ sử a mộ t phầ n bả n á n sơ thẩ m, chấ p nhậ n mộ t phầ n khá ng cá o và đì nh chỉ xé t xử mộ t phầ n yêu cầ u kháng cáo của ông V – bà L là phù hợp.

Quá trình thụ lý v à giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm chấ p nhậ n yêu cầ u khở i kiệ n củ a bà Đ nhưng tuyên xử công nhậ n quyề n sử dụ ng đấ t cho bà Đ là không đú ng, bở i vì đấ t bà Đ đã đượ c cấ p Giấ y CNQSDĐ thì không thể tiếp tục công nhậ n. Ngoài ra, án sơ thẩm khi tuyên về hoàn trả chi phí tố tụng đã không tuyên về nghĩ a vụ thi hà nh á n theo khoả n 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự là thiế u só t.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm, đề nghị: Chấp nhận kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L, đề nghị sửa án sơ thẩm . Ghi nhậ n sự tự nguyệ n củ a bà Đ về hoà n trả giá trị đất, giá trị cây cối cho bị đơn, để giữ y phần đất cho nguyên đơn sử dụ ng.

Về chi phí tố tụ ng , các bên phải chịu theo tỷ lệ yêu cầu không đượ c chấ p nhậ n. Ông V – bà L không đượ c chấ p nhậ n 61,57%; bà Đ không đượ c chấ p nhậ n 38,43%, nên cá c bên phả i tự gá nh chị u chi p hí tố tụng về phần mình theo tỷ lệ không đượ c chấ p nhậ n. Chi phí tố tụ ng là 8.000.000 đồ ng x 61,57% = 4.925.600 đồ ng, vợ chồ ng ông V phải chịu; phầ n cò n lạ i bà Đ phải chịu 3.074.400 đồ ng. Bà Đ dự nộ p 6.500.000 đồ ng; ông V – bà L phải hoàn lại cho bà Đ 3.425.600 đồ ng.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm , phúc thẩm do cá c bên là ngườ i cao tuổ i, đều có đơn xin miễ n án phí, nên xé t miễ n cho cá c đương sự theo Điề u 12,14 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Các bên đã dự nộp được hoàn lại.

Những quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không giải quyết, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điể m c khoả n 1, khoản 3 Điề u 289; khoản 2 Điề u 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Chấp nhận mộ t phầ n kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 01/2018/DS-ST ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

Tuyên xử :

1. Đình chỉ một phần yêu cầu kháng cáo của ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L đố i vớ i diệ n tí ch 986m2 đấ t (có tài sản trên đấ t) của bà Nguyễ n Thị Đ.

2. Chấp nhận mộ t phầ n yêu cầ u cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ. Buộ c ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L chấ m dứ t hà nh vi cả n trở quyề n sử dụ ng đấ t củ a bà Nguyễ n Thị Đ. Giữ y phầ n đấ t có diện tích 1.572m2 và toàn bộ cây cối hiệ n hữ u có trên đấ t thuộc quyền sử dụng đã đượ c cấ p cho bà Nguyễn Thị Đ, phần đất tọa lạc ấp Tân Lợi A, xã Tạ An Khương Nam, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau có vị trí tứ cận như sau:

- Hướng Đông giáp phần đất còn lại của bà Nguyễn Thị Đ điểm P1P2, dài 19,6m;

- Hướng Tây giáp sông Hương Mai (tên gọi khác là Hang Mai) điểm M4M1, dài 15,2m;

- Hướng Nam giáp phần đất của ông Trần Văn V điểm P2M4, dài 93m;

- Hướng Bắc giáp phần đất của ông Nguyễn Văn T2 điểm M1P1, dài 88,8m;

(Kèm theo sơ đồ đo đạc ngày 20.7.2017)

3. Chấ p nhậ n mộ t phầ n yêu cầ u phả n tố củ a ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L về yêu cầ u đò i diệ n tí ch 604m2 đấ t của bà Đ. Buộ c bà Nguyễ n Thị Đ hoàn trả cho ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L tổ ng số tiề n 24.020.000 đồ ng (hai mươi bố n triệ u, không trăm hai mươi nghìn đồng).

Không chấp nhận yêu của ông V – bà L về việ c hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện Đầm Dơi cấp cho bà Nguyễn Thị Đ.

4. Về chi phí tố tụ ng: Bà Đ phải chịu 3.074.400 đồ ng (đã dự nộ p 6.500.000 đồ ng). Ông V – bà L phải chịu 4.925.600 đồ ng (đã dự nộ p 1.500.000 đồ ng). Ông V – bà L phải hoàn lại cho bà Đ 3.425.600 đồ ng.

Kể từ ngà y, ngườ i có quyề n yêu cầ u thi hà nh á n có đơn yêu cầ u thi hà nh á n, bên phả i thi hà nh á n không thi hà nh xong, thì còn phải chịu thêm lãi suất phát sinh heo mứ c lã i suấ t quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 468 Bộ luậ t dân sự 2015.

6. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm : Bà Nguyễn Thị Đ và ông Trầ n Văn V– bà Phùng Thị L đượ c miễ n. Ngày 19/6/2017 bà Đ có nộp tiền tạm ứng án phí 731.000đ theo biên lai số 0008917 tại Chi cụ c thi hà nh á n huyệ n Đầ m Dơi được nhận lại. Ông V

- bà L có dự nộp 424.000đ theo biên lai 0009044 ngày 08/8/2017 và dự nộ p 746.000đ theo biên lai số 0009287 ngày 08/11/2017 tại Chi cụ c thi hà nh á n huyệ n Đầm Dơi được nhậ n lạ i.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông V – bà L không phả i chị u , đã dự nộp 300.000 đồ ng theo biên lai thu số : 0009459 ngày 18.01.2018 tại Chi cục thi hành án huyện Đầm Dơi được hoàn lại.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ