- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 173/2026/DS-PT Ngày: 27/01/2026 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mộng Tuyết
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Duyên Hằng
Ông Nguyễn Trung Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hùng Cường - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1392/2025/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2025/DS-ST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 7456/2025/QĐXXPT-DS ngày 11 tháng 12 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 282/2026/QĐ-PT ngày 08 tháng 01 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V; địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (nay là phường G, Thành phố Hà Nội).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Đức H; địa chỉ: số A N, phường D, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ông Đào Hồng C; địa chỉ: số F N, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh hoặc ông Nguyễn Thành L; địa chỉ: số A L, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 30/12/2025); ông H, ông C có mặt; ông Lê vắng M.
- Bị đơn: Ông Lê Văn S, sinh năm 1974; địa chỉ: số F khu phố C, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1995; địa chỉ: thôn L, phường H, tỉnh Quảng Ninh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 11/9/2025); có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Văn S.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V trình bày: Ngày 12/10/2019, Ngân hàng TMCP V (gọi tắt là Ngân hàng) và ông Lê Văn S ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng số LN1912101961263, số hồ sơ giải ngân 005-P-0128370 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng-các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng số LN1912101961263, số hồ sơ giải ngân 005-P-0128370). Căn cứ thu nhập của ông S, Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng (loại thẻ VPMobi Platinum) với hạn mức sử dụng chung là 40.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng cá nhân; thời hạn cấp tín dụng: lâu dài, có thể điều chỉnh theo đánh giá của Ngân hàng; lãi suất cho vay: Theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành sử dụng và quy định của Ngân hàng từng thời kỳ. Trong quá trình sử dụng thẻ ông S đã vi phạm nghĩa vụ nợ đối với Ngân hàng nên khoản vay đã chuyển qua nợ quá hạn từ ngày 13/7/2023. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông S phải thanh toán toàn bộ khoản nợ tính đến ngày 22/9/2025 là 88.604.892 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 39.996.358 đồng và lãi quá hạn là 48.608.534 đồng. Ông S còn phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh từ ngày 23/9/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ.
Quá trình tố tụng, ông Lê Văn S đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo yêu cầu cung cấp chứng cứ, triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông S đều vắng mặt không có lý do, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố, không yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng, không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V đối với ông Lê Văn S về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc ông Lê Văn S phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ tính đến ngày 22/9/2025 là 88.604.892 đồng (tám mươi tám triệu sáu trăm linh bốn nghìn tám trăm chín mươi hai đồng). (Trong đó: Nợ gốc là 39.996.358 đồng (ba mươi chín triệu chín trăm chín mươi sáu nghìn ba trăm năm mươi tám đồng) và lãi quá hạn là 48.608.534 đồng (bốn mươi tám triệu sáu trăm linh tám nghìn năm trăm ba mươi bốn đồng)).
Tiền lãi kể từ ngày 23/9/2025 trở đi được tiếp tục tính theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng, phát hành, sử dụng thẻ tín dụng dịch vụ ngân hàng điện tử và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng số LN1912101961263, số hồ sơ giải ngân 005-P-0128370 ngày 12/10/2019 cho đến khi ông S trả xong các khoản nợ.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 31/10/2025 ông Lê Văn S có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ông S cho rằng nợ gốc và nợ lãi quá cao, dư nợ là không chính xác, không phù hợp thực tế sử dụng thẻ tín dụng của ông S.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn S, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Người đại diện hợp pháp của bị đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của bị đơn theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trên cơ sở Giấy đề nghị kiêm hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, dịch vụ ngân hàng điện tử giữa Ngân hàng và ông Lê Văn S (dành cho khách hàng cá nhân đăng ký trực tuyến) thì Ngân hàng đã đồng ý cấp 01 thẻ tín dụng (loại thẻ VPMobi Platinum) với hạn mức sử dụng chung là 40.000.000 đồng; mục đích tiêu dùng cá nhân; thời hạn cấp tín dụng: lâu dài, có thể điều chỉnh theo đánh giá của Ngân hàng; lãi suất cho vay: Theo hợp đồng cấp hạn mức tín dụng thẻ, phát hành sử dụng và quy định của Ngân hàng từng thời kỳ.
Ông S cho rằng nợ gốc và nợ lãi quá cao, dư nợ là không chính xác, không phù hợp thực tế sử dụng thẻ tín dụng của ông S. Tuy nhiên, ông S không đưa ra được chứng cứ chứng minh. Trong khi đó, theo chứng cứ Ngân hàng cung cấp, tính đến ngày 12/7/2023, dư nợ gốc của ông S là 39.996.358 đồng. Do ông S vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn từ ngày 13/7/2023. Tính đến ngày 22/9/2025, ông S còn nợ là 88.604.892 đồng, trong đó nợ gốc là 39.996.358 đồng và nợ lãi là 48.608.534 đồng. Ngân hàng tính mức lãi suất vay trong hạn là theo mức lãi suất tại Quyết định số 354/2019/QĐ-TGĐ ngày 31/5/2019 về việc ban hành điều chỉnh lãi suất thẻ tín dụng khối khách hàng cá nhân. Theo quyết định này thì loại thẻ của ông S là thẻ VPMobi Platinum có mức lãi suất là 2,79%/tháng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào quyết định trên để xem xét về mức lãi suất và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
Ông Lê Văn S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình nên kháng cáo không được chấp nhận.
Đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phù hợp.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 148, Điều 296, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Văn S.
2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 185/2025/DS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh
3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0035103 ngày 05/11/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - THADS Thành phố Hồ Chí Minh; - Phòng THADS khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; - TAND khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh; - Đương sự; - Lưu: HS, VP (15), 72. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |