vanban.org

Bản án 173/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 23/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lƣơng Hoàng P phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy”.

Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Lƣơng Hoàng P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày 31/10/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lương Hoàng P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lƣơng Hoàng P phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 173/2025/HS-ST
Ngày: 23-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phan Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Kim Uyên và bà Vƣơng Thị Hồng Thanh.

- Thư ký phiên tòa: bà Phùng Kim Ngân, là Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: bà Phùng Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2025 tại Hội trƣờng A, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 135/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 176/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lƣơng Hoàng P, sinh năm 1977, tại tỉnh Ngh An; thƣờng trú: thôn C, xã C, huy n A, tỉnh Ngh An; nơi cƣ trú: phòng số F, nhà trọ số B, đƣờng số D, KDC A, khu phố C, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghi p: không; trình độ học v n: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; con ông Lƣơng Văn S (đã chết) và bà Lƣơng Thị S1 (đã chết); có vợ Phạm Thị D, sinh năm 1985 và 01 con, sinh năm 2015; có 05anh em, lớn nh t sinh năm 1956, nhỏ nh t sinh năm 1975; tiền án: không; tiền sự: ngày 24/5/2024, Công an phƣờng B, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép ch t ma túy” theo Quyết định số 191/QĐ-XLVPHC, bị cáo chƣa thi hành; nhân thân: ngày 15/02/2023, Công an phƣờng A, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép ch t ma túy” theo Quyết định số 85/QĐ-XLVPHC, bị cáo đã nộp phạt; bị tạm gi , tạm giam t ngày 31/10/2024. Có m t.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Thanh L; vắng m t

2. Chị Nguyễn Thị Thu H; vắng m t.

3. Chị Phạm Thị D; vắng m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Lƣơng Hoàng P là đối tƣợng không có nghề nghi p và ở cùng vợ, con tại phòng trọ số F, số B, đƣờng số D, khu dân cƣ A, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. T khoảng tháng 12/2023, P bắt đầu sử dụng trái phép ch t ma túy.

Khoảng 17 giờ ngày 30/10/2024, P đến khu vực cây xăng A, đƣờng Đ, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng g p M (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Trên đƣờng đi, P g p Q (quen biết ngoài xã hội, không rõ nhân thân, lai lịch) nên nhờ Q chở bằng xe mô tô đi đến khu vực cây xăng A. Khi đến nơi, Q rời đi, P ở lại chờ M để hỏi mua ma túy với số lƣợng khoảng 05 gam, loại Heroine (H). M thông báo giá tiền là 1.400.000 đồng. Sau đó, P nhận 01 vỏ gói thuốc lá nhãn hi u Bastos bên trong chứa ma túy t M và trả cho M số tiền 1.400.000 đồng. P c t gi u trong ngăn tạo đá của tủ lạnh (đã hƣ hỏng, không còn hoạt động) tại phòng trọ của P. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, P l y vỏ gói thuốc Bastos chứa ma túy t trong ngăn tạo đá và mở ra kiểm tra thì th y bên trong có 01 gói nylon buộc dây thun màu xanh và 01 gói nylon buộc dây thun màu đỏ đều chứa ma túy. P l y 01 ít ma túy trong túi nylon buộc dây thun màu đỏ để sử dụng. Sau đó, P sử dụng kéo cắt ống hút nhựa thành 12 đoạn nhỏ rồi bỏ ma túy vào các đoạn ống hút và dùng bật lửa để hàn kín hai đầu. P c t 07 đoạn ống hút màu xanh hàn kín chứa ma túy và 01 đoạn ống hút màu trắng hàn kín chứa ma túy trên 01 nắp phin cà phê úp ngƣợc; c t 04 đoạn ống hút màu trắng đỏ hàn kín chứa ma túy trên 01 nắp phin cà phê úp ngƣợc; số ma túy còn lại P để trong 01 túi nylon buộc dây thun màu xanh và 01 túi nylon buộc dây thun màu đỏ. P c t toàn bộ số ma túy trên vào ngăn tạo đá của tủ lạnh để nhằm mục đích sử dụng dần. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, lực lƣợng Công an kiểm tra th y P có biểu hi n nghi v n nên tiến hành khám xét khẩn c p chỗ ở và thu gi ở ngăn tạo đá của tủ lạnh tại khu vực bếp: 01 (một) bộ phin cà phê có nắp úp ngƣợc, trên nắp phin có 07 (bảy) đoạn ống hút màu xanh hàn kín, bên trong chứa ch t màu trắng (ký hi u M1=0,7624 gam); 01 (một) đoạn ống hút màu trắng hàn kín, bên trong chứa ch t màu trắng (ký hi u M2=0,1515 gam); 01 (một) bộ phin cà phê có nắp úp ngƣợc, trên nắp phin có có 04 (bốn) đoạn ống hút màu trắng đỏ hàn kín, bên trong chứa ch t màu trắng (ký hi u M3=0,3981 gam); 01 (một) gói nylon buộc dây thun màu đỏ, bên trong có chứa ch t màu trắng (ký hi u M4=0,1057 gam); 01 (một) gói nylon buộc dây thun màu xanh, bên trong có chứa ch t màu trắng (ký hi u M5=1,7979 gam). Ngoài ra còn thu gi của P: 01 (một) đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A34, gắn sim số 0978765341. Tại Kết luận giám định số 5163 ngày 08/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Ch t màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng 0,7624 gam (M1), 0,1515 gam (M2), 0,3981 gam (M3), 0,1057 gam (M4); 1,7979 gam (M5), loại Heroine. Tổng khối lƣợng ma túy thu gi là 3,2156 gam, loại Heroine.

Tại cáo trạng số 165/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 4 năm 2025, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Lƣơng Hoàng P về tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại di n Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An gi nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lƣơng Hoàng P mức án t 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bì thƣ đã đƣợc Phòng K Công an tỉnh B niêm phong chứa 2,8521 gam, loại Heroine còn lại sau giám định đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 (một) đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A34, gắn sim số 0978765341 là tài sản của bị can, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại.

Đối với 02 (hai) bộ phin cà phê không còn giá trị sử dụng, đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

Đối với đối tƣợng M bán ma túy cho P do chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với chị Phạm Thị D là ngƣời cùng sống chung tại phòng số 6. Quá trình điều tra xác định chị Phạm Thị D không biết P tàng tr trái phép ch t ma túy, không đủ cơ sở để xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xử lý.

Đối với ngƣời quản lý nhà trọ là bà Nguyễn Thị Thu H, quá trình điều tra xác định vi c P thực hi n hành vi trái pháp luật tại phòng số 6 thì bà H không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Tại phiên tòa, bị cáo Lƣơng Hoàng P không tranh luận, đối đáp gì. Tại phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nh hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận th y nhƣ sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Tại cơ quan điều tra, ngƣời làm chứng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo trong quá trình tố tụng, các tài li u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 31/10/2024, tại phòng trọ số F, số B, đƣờng số D, khu dân cƣ A, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, Lƣơng Hoàng P có hành vi tàng tr ma túy với khối lƣợng 3,2156 gam, loại Heroine để sử dụng. Hành vi của Lƣơng Hoàng P đã đủ yếu tố c u thành tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy” quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Cáo trạng số 165/CT-VKS-DA ngày 18 tháng 4 năm 2025 của Vi n kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tỉnh Bình Dƣơng và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính ch t, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hi n là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về ch t ma túy. Bị cáo là ngƣời có năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng tr trái phép ch t ma túy là vi phạm pháp luật, nhƣng vẫn cố ý thực hi n. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tƣơng xứng với tính ch t, mức độ tội phạm đã thực hi n, có xét đến các tình tiết tăng n ng, giảm nh trách nhi m hình sự và nhân thân của bị cáo.

Tình tiết tăng n ng trách nhi m hình sự: Bị cáo không có.

Tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự của bị cáo đƣợc xem xét khi quyết định hình phạt: Tại cơ quan điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là nh ng tình tiết giảm nh trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng để giảm nh một phần hình phạt cho bị cáo thể hi n chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

Nhân thân: bị cáo là ngƣời sử dụng ma túy. Ngày 24/5/2024, Công an phƣờng B, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy theo Quyết định số 191/QĐ-XLVPHC, bị cáo chƣa thi hành. Ngày 15/02/2023, Công an phƣờng A, thành phố T ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép ch t ma túy theo Quyết định số 85/QĐ-XLVPHC, bị cáo đã nộp phạt.

T nh ng phân tích trên, Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đ u tranh, phòng ng a chung.

Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử quyết định hình phạt tù đối với bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

Xét ma túy loại Heroine có khối lƣợng 2,8521 gam, còn lại sau giám định, là ch t c m lƣu hành, cần tịch thu, tiêu hủy.

Xét 01 (một) đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A34, gắn sim số 0978765341 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại lại cho bị cáo.

Xét 02 (hai) bộ phin cà phê không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với M bán ma túy cho P, chƣa rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Đối với chị Phạm Thị D, sống chung tại phòng số 6. Quá trình điều tra xác định chị Phạm Thị D không biết P tàng tr trái phép ch t ma túy, không đủ cơ sở để xử lý hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B không xử lý.

Đối với ngƣời quản lý nhà trọ là bà Nguyễn Thị Thu H, quá trình điều tra xác định vi c P thực hi n hành vi trái pháp luật tại phòng số 6 thì bà H không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Mức hình phạt nhƣ đề nghị của đại di n Vi n kiểm sát đề nghị là phù hợp.

Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lƣơng Hoàng P phạm tội “Tàng tr trái phép ch t ma túy”.

Áp dụng c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Lƣơng Hoàng P 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn ch p hành hình phạt tù tính t ngày 31/10/2024.

2. Về bi n pháp tƣ pháp và xử lý vật chứng: áp dụng Điều 46; điểm a khoản 1, 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy ma túy loại Heroine có khối lƣợng 2,8521 gam, còn lại sau giám định và 02 (hai) bộ phin cà phê.

Trả lại cho bị cáo Lƣơng Hoàng P 01 (một) đi n thoại di động hi u Samsung Galaxy A34, gắn sim số 0978765341.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Toà án.

Bị cáo Lƣơng Hoàng P phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mƣời lăm) ngày, kể t ngày tuyên án.

Cỡ chữ