vanban.org

Bản án 173/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 19/12/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/12/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T .

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Khánh Hòa về phần hình phạt; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu T - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Lu…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T .
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2025/HS-PT
Ngày: 19 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Bách.

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Bích Liễu;

Ông Lê Thành Trung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 212/2025/TLPT-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Khánh Hòa.

- Bị cáo có kháng cáo:

NGUYỄN THỊ THU T, sinh năm: 1993, tại tỉnh Khánh Hòa, Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký thường trú: thôn X, phường B, tỉnh Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn E, xã D, tỉnh Khánh Hòa Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Xuân H và bà Ngô Thị L; Chồng là: Nguyễn Văn H1 và 03 người con (lớn nhất 11 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi); Tiền án, Tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại không có kháng cáo nhưng có liên quan đến kháng cáo của bị cáo: Ông Nguyễn Tấn H2, sinh năm: 1981. Nơi cư trú: Thôn X, xã D, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thu T có giấy phép lái xe mô tô hạng A1, làm nghề buôn bán đồ ăn sáng tại chợ X, xã X, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (nay là xã D, tỉnh Khánh Hòa).

Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 19/12/2024, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 79D1-716.28 chở hàng đi bán. Khi đến ngã ba đường C - Tỉnh lộ 8 thuộc xã X, T dừng xe nhường đường cho một xe mô tô khác đi qua, rồi rẽ trái vào Tỉnh lộ 8, đi sát lề phải đường.

Đến Km16+950 Tỉnh lộ 8 (thuộc thôn X), do không chú ý quan sát phía trước, T đã điều khiển xe tông từ phía sau vào ông Nguyễn Tấn H2 đang đi bộ sát mép lề phải đường. Cú va chạm làm xe mô tô ngã sang trái, trượt dài 5,7m; ông H2 bị hất văng vào lề đất bên phải đường. Hậu quả: ông H2 và T bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện.

Theo Bản kết luận giám định số 96/25/KLTTCT-PYKH ngày 24/4/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh K: Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Tấn H2 là 75%” .

Tại Bản kết luận giám định số 95/25/KLTTCT-PYKH ngày 28/02/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh K: tỷ lệ % tổn thương cơ thể của Nguyễn Thị Thu T là 11%.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Khánh Hòa, đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật hình sự 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (Chín) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Phần kháng cáo:

Ngày 03/10/2025, bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo: đề nghị hủy án sơ thẩm để điều tra, giám định lại tỷ lệ thương tật của Nguyễn Tấn H2 và xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

- Ngày 17/12/2025, bị cáo Nguyễn Thị Thu T có đơn kháng cáo bổ sung, thay đổi nội dung kháng cáo, xin hưởng án treo.

Nộp bổ sung các tài liệu: xác nhận của Ủy ban nhân dân phường B, tỉnh Khánh Hòa về hoàn cảnh gia đình và việc chấp hành pháp luật của bị cáo.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội giống với nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo: xin được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T là đúng chủ thể và đảm bảo thời hạn theo quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung: bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo. Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, nuôi 03 con nhỏ; cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ. Bị hại sức khỏe ổn định, xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 BLHS.

Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T. Sửa bản án sơ thẩm số: 23/2025/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Khánh Hòa, theo hướng cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T được hưởng án treo. Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

- Bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo xin hưởng án treo để nuôi con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) nên vụ án được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống với nội dung bản án sơ thẩm, đủ cơ sở xác định:

Khoảng 05 giờ 15 phút ngày 19/12/2024, tại Km16+950 Tỉnh lộ 8 thuộc thôn X, xã D (trước đây là xã X), huyện D, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thị Thu T điều khiển xe mô tô biển số 79D1-716.28 lưu thông theo hướng D - X (cũ). Do không chú ý quan sát, bị cáo đã điều khiển xe tông vào ông Nguyễn Tấn H2 đang đi bộ cùng chiều phía trước, sát mép lề phải đường. Hậu quả, ông H2 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 75%.

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo, xin cho bị cáo được hưởng án treo, thấy rằng:

Cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại có đơn bãi nại, xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đã xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 54 BLHS quyết định hình phạt 09 tháng đối với bị cáo, dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tại khoản 1 Điều 260 BLHS (1 – 5 năm), là có căn cứ và đúng pháp luật.

Thấy rằng: tỷ lệ thương tích của bị hại 75%, đến nay đã điều trị ổn định, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại tha thiết xin cho bị cáo được hưởng án treo. Bản thân của bị cáo cũng bị đa chấn thương do tai nạn giao thông, tỷ lệ tổn thương cơ thể đến 11%, bị cáo đang nuôi 3 con nhỏ, lớn nhất 11 tuổi, nhỏ nhất 3 tuổi.

Xét: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, việc làm ổn định, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội và có đủ các điều kiện khác theo hướng dẫn tại Điều 2 Nghị quyết “Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo” của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao tại Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025.

Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T. Sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo như ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên tòa.

Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 06/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thu T .

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2025/HSST ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 3 - Khánh Hòa về phần hình phạt;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (Ngày 19 - 12 – 2025).

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho Ủy ban nhân dân xã D, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án Hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (19 tháng 12 năm 2025).

Cỡ chữ