vanban.org

Bản án 173/2025/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/04/2025 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là ông Phan Thanh H đối với bị đơn là ông Trần Minh S.

Buộc ông Trần Minh S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phan Thanh H số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 03/10/2020. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh d… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là ông Phan Thanh H đối với bị đơn là ông Trần Minh S.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2025/DS-ST
Ngày: 18/4/2025
V/v: Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà Nguyễn Thị Huệ

- Ông Nguyễn Văn Soan

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Minh Tú – Thư ký Toà án quận Gò Vấp

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Thu Phượng – Kiểm sát viên

Ngày 18 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1028/2024/TLST-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2025/QĐST - DS ngày 24 tháng 02 năm 2025 (và Quyết định hoãn phiên tòa số 67/2025/QĐST – DS ngày 24 tháng 3 năm 2025) giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Phan Thanh H, sinh năm 1992

Địa chỉ: quận Bình Tân, TPHCM

Bị đơn: Ông Trần Minh S, sinh năm 1994

Địa chỉ: quận Gò Vấp, TPHCM

(Nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Bị đơn vắng mặt không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là ông Phan Thanh H và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện:

Ngày 03/10/2020 ông Phan Thanh H có cho ông Trần Minh S vay số tiền 80.000.000 đồng để tiêu dùng cá nhân. Ông S có ký hợp đồng vay tiền hẹn thời gian thanh toán là 01 năm; Nhưng đến nay Ông S vẫn chưa thanh toán nên ông H khởi kiện yêu cầu Ông S thanh toán số tiền 80.000.000 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Trần Minh S mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng Ông S không đến. Do đó, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho Ông S nhưng Ông S liên tục vắng mặt do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Ông S.

Tại phiên tòa hôm nay, ông Phan Thanh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như nêu trên. Ông Trần Minh S vắng mặt không ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp phát biểu ý kiến:

1/ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

1.1 Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử:

Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định tại các Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thực hiện đúng quy định việc tống đạt các văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định về nội quy phiên tòa.

1.2 Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến phiên tòa hôm nay nguyên đơn đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2/ Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đánh giá yêu cầu của nguyên đơn phù hợp quy định tại Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về tố tụng:

1.1 Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:

Tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn là tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Tại Hợp đồng cho vay tiền ngày 03/10/2020 ghi địa chỉ thường trú của ông Trần Minh S tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh; Chổ ở hiện nay của ông Trần Minh S tại quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả thu thập tài liệu chứng cứ thể hiện: “Đương sự Trần Minh S, sinh năm 1994 không đăng ký thường trú, tạm trú, không thực tế cư trú tại địa chỉ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh. Ông Trần Minh S có đăng ký thường trú tại quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, nhà giải tỏa hiện ở đâu không rõ”. Điều này cho thấy người khởi kiện đã cung cấp đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện nhưng người bị kiện thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, thể hiện mục đích che dấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ của bị đơn. Bị đơn không thanh toán nợ đúng hạn nên nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại nơi cư trú cuối cùng là quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, điều này phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc niêm yết công khai các văn bản tố tụng không đảm bảo việc cấp, tống đạt, thông báo cho người được cấp, tống đạt, thông báo nên Tòa án đã thực hiện việc đăng tin theo quy định tại Điều 180 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

1.2 Về người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 4 Điều 91; khoản 1 và khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, nguyên đơn không yêu cầu tòa án triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác. Do đó, Tòa án không triệu tập thêm người tham gia tố tụng.

Xét yêu cầu của đương sự:

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền 80.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 03/10/2020. Bị đơn hẹn thời hạn thanh toán là 01 năm nhưng không thực hiện đúng theo thỏa thuận đã cam kết là vi phạm nghĩa vụ gây thiệt hại cho nguyên đơn. Do đó, cần buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số nợ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu của nguyên đơn phù hợp quy định tại Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.

Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn thanh toán lãi từ 03/10/2021 đến thời điểm xét xử sơ thẩm là có lợi cho bị đơn, Hội đồng xét xử ghi nhận.

Bị đơn phải trả lãi chậm thực hiện nghĩa vụ theo mức lãi suất quá hạn kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong theo quy định.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Luật phí và lệ phí và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Hoàn lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 235; Điều 266; Điều 271 và khoản 1 Điều 273, của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 463; khoản 1 và khoản 4 Điều 466; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Căn cứ Luật thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nguyên đơn là ông Phan Thanh H đối với bị đơn là ông Trần Minh S.

Buộc ông Trần Minh S có nghĩa vụ thanh toán cho ông Phan Thanh H số tiền 80.000.000 đồng (tám mươi triệu đồng) theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 03/10/2020.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Thi hành ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Án phí dân sự sơ thẩm:

- Ông Trần Minh S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.000.000 đồng (bốn triệu đồng).

- Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho ông Phan Thanh H số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo biên lai thu số 0014619 ngày 10/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo và kháng nghị bản án: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định.

Cỡ chữ