vanban.org

Bản án 173/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 11/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cao Thị Trúc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TÒAÁNNHÂNDÂNTP.VŨNGTÀU
TỈNH BÀRỊA-VŨNGTÀU
————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HSST
Ngày 11-07-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thanh Hảo

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Thúy Hảo

Ông Hồ Sĩ Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị Hiền – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 07 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý 159/2023/HSST ngày 07 tháng 06 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 184/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 06 năm 2023, đối với bị cáo:

Cao Thị Trúc L, sinh ngày 06-12-2004; giới tính: Nữ; Nơi thường trú và nơi ở: Số E T, Phường E, thành phố V, Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Văn T và bà Trần Thị P; Tiền sự -Tiền án: không; Bị bắt ngày 08 tháng 02 năm 2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (bị cáo có mặt).

Người làm chứng: Anh Phạm Văn T1, sinh năm 1965 – Địa chỉ: Số A L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15-01-2023, tại số B H, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; các cơ quan chức năng bắt quả tang Cao Thị Trúc L đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng.

Quá trình điều tra, Cao Thị Trúc L khai nhận: Khoảng hai tuần trước khi bị bắt, L đến thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu sử dụng ma túy cùng người bạn nữ tên M (chưa xác định được nhân thân). Cả hai dùng một ít, số còn lại M cho L mang về để sử dụng dần. L cất giấu gói nylon chứa ma túy đá trong ốp lưng điện thoại di động của mình. Đến khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15-01-2023, khi L đang ở số B H, Phường A, thành phố V thì bị bắt quả tang như trên.

Thu giữ vật chứng của L gồm: 01 gói nylon màu trắng hàn kín, bên trong có chứa chất kết tinh không màu trong suốt; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei: 869874050365673.

Bản kết luận giám định số 55/KL-KTHS-MT ngày 19-01-2023 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Mẫu gửi giám định có khối lượng 0,1109 gam, là ma túy loại Methamphetamine (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

Đối tượng tên M có liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, do chưa xác định được nhân thân nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh điều tra làm rõ, xử lý sau theo quy định pháp luật.

Bản cáo trạng số 163/CT-VKSTPVT ngày 06-06-2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Cao Thị Trúc L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo L mức án từ 12 đến 15 tháng tù giam. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh; bị cáo không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thành phố V và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo xác định vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 15-01-2023, tại số B H, Phường A, thành phố V; bị cáo bị bắt quả tang khi đang tàng trữ trái phép 0,1109 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng.

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được các cơ quan tiến hành tố tụng thu thập trong hồ sơ vụ án và thẩm tra lại tại phiên tòa. Hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác; ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm theo quy định pháp luật, nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét bị cáo không có công việc ổn định, thu nhập thấp nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

- Kết luận giám định số 55/KL-KTHS-MT ngày 19-01-2023 của Phòng K

- Công an tỉnh B xác định mẫu vật gửi giám định đã sử dụng hết cho công tác giám định, chỉ hoàn lại 01 phong bì niêm phong số 55 ngày 19-01-2023, nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei: 869874050365673, là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại bị cáo.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Cao Thị Trúc L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Cao Thị Trúc L 01 ( một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 08 tháng 02 năm 2023.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộluật tố tụng hình sự;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 55 ngày 19-01-2023.

- Trả lại bị cáo Cao Thị Trúc L: 01 điện thoại di động hiệu Oppo, số Imei: 869874050365673.

Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 224/BB-CCTHADS ngày 10-07-2023.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ