vanban.org

Bản án 173/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phùng Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phùng Anh V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02 tháng 5 năm 2023. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 695/KL-KTHS ngày 05-5-2023 (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-7-2023). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phùng Anh Vũ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phùng Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HSST
Ngày: 17-8-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Bảo; bà Phạm Thị Loan.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2023/TLST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 141/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo.

Họ và tên: Phùng Anh V - Sinh năm: 1985 tại Nam Định; nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: 32 N, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông: Phùng Bá T, con bà: Bùi Thị T, gia đình có 03 anh, chị em; vợ: Nguyễn Thị Trang, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 35 ngày 05-8-2011, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép V khí quân dụng”, Tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 39 tháng tù; Bản án số 73 ngày 03-02-2016, Tòa án nhân dân thành phố N xử phạt 39 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị tạm giữ từ ngày 02-5-2023, chuyển tạm giam từ ngày 11-5-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Đức S, anh Trần Thế L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 01-5-2023, Tổ công tác Công an phường C, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực gần đền C đoạn hướng ra đường đê L, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Phùng Anh V đi xe đạp có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, V tự giác giao nộp từ tay trái 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (V khai là gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã thu giữ, niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phùng Anh V. Ngoài ra còn tạm giữ của V chiếc xe đạp màu xanh, đen trên khung xe có chữ PEUGEOT, đã cũ.

Bản Kết luận giám định số 695/GĐKTHS ngày 05-5-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu trắng, thu giữ của Phùng Anh V được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine (Heroin). Khối lượng mẫu: 0,141 gam.

Tại Cơ quan Điều tra, Phùng Anh V khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01-5-2023, V đi xe đạp từ nhà đến một ngõ nhỏ (không nhớ số ngõ) ở khu vực đền C, xã N, thành phố N gặp một người phụ nữ (không rõ lai lịch, địa chỉ) V hỏi mua Heroine, người phụ nữ này đồng ý, cầm 50.000 đồng V đưa rồi đi đâu không rõ, khoảng 05 phút sau người phụ nữ quay lại đưa cho V 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng, V cầm gói Heroine vừa mua trên tay trái rồi đạp xe đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Bản Cáo trạng số 165/CT-VKS-TPNĐ ngày 05-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố Phùng Anh V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên toà, bị cáo Phùng Anh V xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi cất giữ trái phép ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do nghiện ma túy nên đã tàng trữ với mục đích sử dụng cho bản thân. Bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 để xử lý vật chứng.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Bị cáo nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phùng Anh V không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo Phùng Anh V có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản thu giữ vật chứng; lời khai của những người làm chứng; bản Kết luận giám định số 695/GĐKTHS ngày 05-5-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 10 giờ 45 phút ngày 25-4-2023, tại khu vực gần đền C đoạn hướng ra đường đê L, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định bị cáo Phùng Anh V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,141 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội.

Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan Điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; bố bị cáo là thương binh nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng là người có nhân thân xấu.

Về hình phạt: Xét thấy bị cáo Phùng Anh V là đối tượng có nhân thân xấu đã nhiều lần bị Tòa án đưa ra xét xử nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội cho thấy bị cáo là đối tượng khó giáo dục, cải tạo nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm khắc nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Số ma túy sau khi giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe chiếc xe đạp màu xanh, đen trên khung xe có chữ PEUGEOT đã cũ là tài sản của ông Phùng Bá T (là bố đẻ của bị cáo), địa chỉ 32 Nguyễn C, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, xét thấy không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Cơ quan Điều tra đã trả lại cho ông T là đúng quy định của pháp luật.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo tài liệu điều tra chưa đủ căn cứ xác định nên Cơ quan Điều tra tách ra tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Bị cáo Phùng Anh V bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

1. Tuyên bố: Bị cáo Phùng Anh V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phùng Anh V 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02 tháng 5 năm 2023.

2. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy số ma túy có trong phong bì niêm phong số 695/KL-KTHS ngày 05-5-2023 (vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 07-7-2023).

3. Án phí: Bị cáo Phùng Anh V phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phùng Anh V được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ