vanban.org

Bản án 173/2023/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 24/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 18 ( Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội chứa mại dâm (điều 327 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2023/HSST
Ngày: 24/8/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Chi

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Quang;

Bà Nguyễn Thị Anh Vân;

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 24/8/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 166/2023/HSST ngày 25 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 196/2023/HSST ngày 31 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT: thôn Bích Tràng, xã Tiền P, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên; Nơi ở: số 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Trình độ văn hoá: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Đại H1, sinh năm1945 (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1954; Họ và tên chồng: Nguyễn Xuân V, sinh năm 1970 (đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 138/HSST ngày 04/3/2003 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 08 năm tù về tội Chứa mại dâm, Môi giới mại dâm. Ra trại ngày 30/8/2005. (đã được xóa án tích).Danh chỉ bản số 223 do Công an quận Bắc Từ Liêm lập ngày 21/4/2023. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/4/2023, hiện đang áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Nguyễn Tuấn Đ1, sinh năm 1999; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Phúc Lý, phường Minh K, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa)

- Anh Bùi Trung H2, sinh năm 1979; Nơi ĐKHKTT: TDP Thượng 2, phường Tây T1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ ngày 13/4/2023, tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Công an quận Bắc Từ Liêm tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội phát hiện tại số nhà 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ do Nguyễn Thị H làm chủ có biểu hiện chứa mại dâm nên đã tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện có 02 đôi nam nữ đang mua bán dâm là Nguyễn Thị H và Bùi Trung H2 (SN 1979; HKTT: TDP Thượng 2, phường Tây T1, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội), Triệu Thị N (SN 1983; HKTT: thôn Tân Lập, xã Tân P1, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) và Nguyễn Tuấn Đ1 (SN 1999; HKTT: TDP Phúc Lý, phường Minh K, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội). Tại chỗ, Nguyễn Thị H, Bùi Trung H2, Triệu Thị N, Nguyễn Tuấn Đ1 khai nhận đang mua bán dâm và Nguyễn Thị H khai thuê nhà để hoạt động bán dâm. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thị H về hành vi chứa mại dâm, thu giữ tang vật và đưa các đối tượng về trụ sở để làm rõ.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 15/02/2023, Nguyễn Thị H thuê nhà tại địa chỉ số 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội của ông Trần Ngọc T3 (SN 1950; HKTT: số 18A Phạm Đình Hổ, phường Phạm Đình H2, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội) để ở và làm dịch vụ kinh doanh tẩm quất thư giãn, bán hàng nước. Ngoài ra, H còn bán dâm cho khách khi có nhu cầu. Ngày 11/4/2023, Triệu Thị N đến quán của H chơi và xin ở lại làm việc, H đồng ý và thỏa thuận khi có khách mua dâm đến H sẽ thu của khách 300.000 đồng tiền mua dâm, khi bán dâm xong H sẽ trả cho N 150.000 đồng, H được hưởng 150.000 đồng.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 13/4/2023, Bùi Trung H2, Nguyễn Tuấn Đ1 và Nguyễn Đức T2 (SN 1993; HKTT: TDP số 2, phường Phúc Diễn, quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội) rủ nhau đi mua dâm. Qua mối quan hệ xã hội, H2 biết tại số nhà 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội của Nguyễn Thị H có hoạt động mua bán dâm với giá 300.000 đồng/01 người/01 lần nên Đ1 đưa cho H2 300.000 đồng để H2 thanh toán tiền mua dâm, còn T2 tự thanh toán tiền. Sau đó, cả ba đi đến số nhà 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ để mua dâm. Khi đến nơi có Nguyễn Thị H và Triệu Thị N đang ngồi ở phòng khách nên H2 nói với H "ở đây có chén không" thì H tự hiểu là có bán dâm không nên H đồng ý và thỏa thuận giá mua dâm là 300.000 đồng/01 người/01 lần quan hệ tình dục. H2 đặt vấn đề mua dâm cho 02 người và đưa cho H 600.000 đồng là tiền mua dâm của H2 và Đ1. Sau đó, H2 cùng Nguyễn Thị H vào phòng ngủ tầng dưới, Đ1 cùng Triệu Thị N vào phòng ngủ bên cạnh phòng khách để mua bán dâm, còn T2 ngồi đợi ở phòng khách. Khi Đ1 và N, H2 và H đang quan hệ tình dục thì bị tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an quận Bắc Từ Liêm phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ:Thu giữ của Nguyễn Thị H: 01 bao cao su đã qua sử dụng; Số tiền 600.000 đồng. Thu giữ của Nguyễn Tuấn Đ1: 01 bao cao su đã qua sử dụng.

Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị H khai nhận như trên và khai: H thuê nhà tại số 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội để ở và làm dịch vụ kinh doanh tẩm quất thư giãn, bán hàng nước. Sau đó, có Triệu Thị N ở cùng để bán dâm. Mỗi lần N bán dâm thì H được hưởng lợi 150.000 đồng. Đây là lần đầu tiên H chứa mại dâm, việc H chứa mại dâm tại số nhà 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ thì chủ nhà là ông Trần Ngọc T3 không biết. Triệu Thị N, Bùi Trung H2, Nguyễn Tuấn Đ1 khai nhận như trên và khai đây là lần đầu thực hiện hành vi mua bán dâm. Do đó, ngày 06/7/2023, Công an quận Bắc Từ Liêm đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị H, Triệu Thị N về hành vi bám dâm với mức phạt 400.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Bùi Trung H2, Nguyễn Tuấn Đ1 về hành vi mua dâm với mức phạt 1.500.000 đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ. H, N, H2, Đ1 đã nộp phạt.

Ông Trần Ngọc T3 cho biết: H thuê nhà từ ngày 15/02/2023, khi thuê nhà H nói thuê để ở. Ông T3 không biết việc H thuê nhà để hoạt động bán dâm, chứa mại dâm. Do đó, cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Đối với 02 bao cao su và số tiền 600.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị H và Nguyễn Tuấn Đ1 có liên quan đến hành vi phạm tội nên cơ quan điều tra chuyển theo vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 170/CT-VKSBTL ngày 24 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Nguyễn Thị H về tội “Chứa mại dâm” theo khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm giữ nguyên quyết định của bản cáo trạng đã truy tố, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Về vật chứng Tịch thu tiêu hủy bao cao su đã qua sử dụng; Tịch thu sung công 600.000 đồng.Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo, người liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm,thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Nguyễn Thị H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Xét thấy lời khai của bị cáo tại phiên toà, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người mua, bán dâm, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng được thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác.

Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 13/4/2023, tại số nhà 557 đường Nguyễn Hoàng Tôn, phường Xuân Đ, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị H có hành vi sử dụng nhà thuê của ông Trần Ngọc T3 để tổ chức cho Triệu Thị N và Nguyễn Tuấn Đ1 hoạt động mua bán dâm, đồng thời H trực tiếp mua bán dâm với Bùi Trung H2 thì bị tổ công tác đội cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội – Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội bắt quả tang cùng vật chứng.

Hành vi của Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội“Chứa mại dâm”, theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự.

. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xói mòn giá trị đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ảnh hưởng xấu đời sống văn hoá xã hội, trật tự trị an, là điều kiện lan truyền căn bệnh HIV/AIDS và nhiều hậu quả nghiêm trọng đến giống nòi, gây lo lắng và bất bình trong nhân dân. Bị cáo không chỉ thuê nhà để chứa mại dâm, mà còn trực tiếp bán dâm cho khách. Do đó cần xử lý nghiêm và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ thực hiện tội phạm của bị cáo, để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu , đã từng được giáo dục pháp luật về tội chứa mại dâm và môi giới mại dâm nhưng không lấy đó làm bài học nên cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 600.000 đồng là tiền do phạm tội mà có. Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo; Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm”.

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 18 ( Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/4/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ Luật Hình sự; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: Số tiền 600.000 đồng; Tịch thu tiêu hủy 02 bao cao su đã qua sử dụng.

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 218/23 ngày 07/8 /2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáovấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án quy định của pháp luật.

Cỡ chữ