vanban.org

Bản án 173/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NGUYEN THI NG- NGUYEN THANH T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Thanh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN XUÂN LỘC
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173 /2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-9-2023
V/v: Ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Thoa.

Ông Nguyễn Lƣơng Khoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phƣơng Dung - Kiểm sát viên. Ngày 29/9/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 554/2023/TLST-HNGĐ ngày 31/7/2023 về ly hôn và tranh chấp nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30/8/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 136/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/9/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1998.

Địa chỉ: Tổ I, khu phố F, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1995.

Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

( Chị N, anh T vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 26/7/2023, bản tự khai, trong quá trình làm việc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Vào năm 2021, chị và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Sau khi kết hôn, cuộc sống anh chị không hạnh phúc, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống , không tìm được tiếng nói chung nên vợ chồng hay cãi nhau. Anh chị không còn sống chung với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay chị không còn tình cảm với anh T, do đó yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021. Hiện nay cháu V đang sống với chị. Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết. Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn anh Nguyễn Thanh T trình bày: Anh thống nhất lời trình bày của chị N về điều kiện kết hôn, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh cũng thống nhất với lời trình bày của chị N. Anh chị đã không còn sống chung từ tháng 12/2022 cho đến nay. Nay chị N yêu cầu ly hôn, anh đồng ý ly hôn vì anh cũng không còn tình cảm với chị N. Về con chung: Anh chị có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021. Sau khi ly hôn, anh đồng ý giao con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc:

Từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân theo đúng quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng, bị đơn không chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị N, chị N được ly hôn với anh T; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động; chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết; tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Thanh T có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó tiến hành xét xử vắng mặt chị N, anh T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tư cách tham gia tố tụng: Chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Thanh T, do đó xác định chị N là nguyên đơn, anh T là bị đơn theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau năm 2021 tại xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, do đó quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của đương sự nhận thấy: Chị Nguyễn Thị N cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng không hạnh phúc, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Anh chị không còn 2 chung sống với nhau từ tháng 12/2022 cho đến nay, m i người có cuộc sống riêng, không ai quan tâm, chăm sóc đến ai. Quá trình làm việc anh Nguyễn Thanh T thừa nhận cuộc sống vợ chồng thường xảy ra bất hòa, mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp, nay anh không còn tình cảm với chị N, do đó, anh đồng ý ly hôn.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận cho chị N được ly hôn với anh T là ph hợp với quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Anh chị thỏa thuận giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Xét thấy, sự thỏa thuận của anh chị là tự nguyện và ph hợp với quy định của pháp luật nên ghi nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc ph hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về Án phí và Lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Ngọc Tú V, sinh ngày 12/12/2021 cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ 18 tuổi và có khả năng lao động

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Anh Tú được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu 3 số 0008193 ngày 26/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc được chuyển thành án phí.

Chị Nguyễn Thị N, anh Nguyễn Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ