vanban.org

Bản án 173/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 23/05/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/05/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Doãn Văn Tr.

Xử phạt bị cáo: Doãn Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo Doãn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện T, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Doãn Văn Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 173/2022/HSPT
Ngày 23 tháng 5 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Kiều Lương

Các thẩm phán:

Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

Bà Lê Thị Ký

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lâm Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo Doãn Văn Tr do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2022/HSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 153/2022/QĐXXPT-HS ngày 04/5/2022.

Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Doãn Văn Tr, sinh năm 1981, tại V.

Nơi cư trú: số 21/1, tổ 3, ấp Ph, xã Ph, huyện T, tỉnh Đ. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Doãn Văn Q (đã chết) và con bà Đặng Thị N, sinh năm 1952; Có vợ Trần Thị Th, sinh năm 1984; Có 03 con (lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2020);

Tiền án: Ngày 12/7/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú xử phạt 20.000.000đ về tội đánh bạc, tính đến ngày bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc thì Trọng đã thi hành được 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ tiền phạt nên vẫn còn án tích;

Tiền sự: Không;

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 05/10/2021 đến nay.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi sáng ngày 21/8/2021, Trọng điều khiển xe mô tô biển số 60K7 - 328.69 đến nhà Đinh Văn Kh, ngụ ấp Ph, xã Ph, huyện T, tỉnh Đ, thì gặp Thân Quang V. Lúc này, Kh cùng Tr và V qua nhà chị Sơn Thị Hg (hàng xóm nhà Kh) ngồi chơi. Sau đó, Tr và V rủ nhau chơi đánh bạc được thua bằng tiên dưới hình thức chơi bài câu cá, cả hai thỏa thuận nêu ai đến được 100 điểm trước thì sẽ ăn được số tiền 20.000 đồng, thỏa thuận xong thì Tr và V chơi đánh bài, còn Đinh Văn Kh và Nguyễn Xuân Th ngồi xem.

Hình thức đánh bạc như sau: người chơi sử dụng bộ bài tây 52 lá chia làm 02 tụ bài, người chia được 10 lá, người còn lại được 09 lá, lật ngẫu nhiên 12 lá bài còn phân bài còn lại để ở giữa. Người đi đầu tiên dùng cây bài đang sở hữu để đổi lây 1 lá bài chung tạo thành tổ hợp phù hợp với các lá còn lại. Người chơi sau thực hiện trình tự như trên. Nếu không ăn được cây nào trong 12 cây chung đã được chủ bàn lật thì phải bốc một cây úp ở nọc và bỏ ra một cây khác ngửa lên thành cây bài chung để người khác bốc. Quy tắc ăn gồm: A ăn được 9, 2 ăn 8, 3 ăn 7, 4 ăn 6, 5 ăn 5, 10 ăn 10, J thường ăn J, Q sẽ ăn Q và K ăn K và ngược lại, chỉ được ăn bài đúng chất và cùng màu. Khi không còn lá bài chung nào trên bàn, ván bài sẽ kết thúc và người chơi thực hiện cộng điểm. Các lá 10, J, Q, K, 9 được tính là 10 điểm. Các lá khác có giá trị tương ứng với số trên bài, nếu bộ bài có con A thì được tính là 20 điểm, chỉ tính các lá bài đỏ còn những lá đen là 0 điểm. Khi cộng xong người nào điểm cao hơn sẽ thắng.

Đến 10 giờ 05 phút cùng ngày, khi Tr và V đang đánh bạc thì bị Công an xã Ph kiểm tra hành chính bắt quả tang cùng tang vật. Quá trình điều tra đã làm rõ được tổng số tiền dùng vào mục đích đánh bạc là 520.000 đồng.

Tang vật thu giữ:

- Trên chiếu bạc số tiền 520.000 đồng, 02 bộ bài tây 52 lá đã qua sử dụng, 01 bộ bài tây 52 lá chưa qua sử dụng.

- Ngoài ra còn thu giữ tài sản gôm 04 xe mô tô các loại biển số 83S4 - 1239, 60B7 - 044.88, 60B3 - 328.69, 86Z1 - 9046.

Tại Bản Cáo trạng số 01/CT-VKSTP-ĐN ngày 06-12-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huỵện Tân Phú, truy tố bị cáo Doãn Văn Tr về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại bản án số 05/2022/HSST ngày 18/01/2022, của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú đã áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Doãn Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên về phần án phí, xử lý vật chứng của vụ án.

Ngày 25/01/2022, bị cáo Doãn Văn Tr kháng cáo xin chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa:

Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Doãn Văn Tr về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 06 (sáu) tháng tù là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo, không nặng như nội dung kháng cáo của các bị cáo đã nêu.

Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết nào mới nên không có cơ sở xem xét.

Đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Doãn Văn Tr làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của bản án sơ thẩm đã nêu. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Mức án mà cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là 06 (sáu) tháng tù là phù hợp với, tính chất mức độ và hành vi của bị cáo đã thực hiện.

Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo xin được cải tạo không giam giữ. Hội đồng xét xử xét thấy:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cấp sơ thẩm đã xác định trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Ngoài những tình tiết giảm nhẹ mà cấp sơ thẩm đã xem xét, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo cung cấp 01 đơn cứu xét có xác nhận địa phương thể hiện bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, trong quá trình tại ngoại bị cáo luôn chấp hành chính sách pháp luật, có xác nhận của bệnh viện Tâm thần tại thành phố Hồ Chí Minh vợ bị cáo đang điều trị tâm thần nội trú, có con con nhỏ, là lao động chính trong gia đình.

Đây là những tình tiết mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo. Hơn nữa trong vụ án này số tiền bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 520.000 đồng (năm trăm hai mươi nghìn đồng) dưới mức quy định của điều luật, nhưng do trước đó bị cáo đã bị xét xử về hành vi trên chưa được xóa án tích, đây là căn cứ để xét xử bị cáo trong vụ án này.

Căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/5/2022, của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Xét thấy, bị cáo có nhiều tỉnh tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, ngoài ra bị cáo còn có địa chỉ rõ ràng. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú quản lý, giám sát giáo dục, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải. Do đó, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, chuyển sang hình phạt tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách buộc bị cáo chấp hành.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp xử một phần với Hội đồng xét về tội danh của bị cáo nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Doãn Văn Tr. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 05/2022/HSST ngày 18/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Phú.

2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo: Doãn Văn Tr 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Doãn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Ph, huyện T, tỉnh Đ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 và khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Bị cáo bị xét xử về tội “Đánh Bạc”.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ